Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cà chua là cây có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, là cây có thể trồng trên vùng rau chuyên canh hoặc có thể trồng trên các loại giá thể khác nhau. Trên cơ sở yêu cầu sinh thái, dinh dưỡng của cây cà chua, khí hậu thích hợp những giống cà chua mới có thể sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao. Cũng như nhiều loại cây trồng khác, cà chua cần ít nhất 12 nguyên tố dinh dưỡng, đó là đạm, lân, kali, canxi, lưu huỳnh, magiê, bo, sắt, măngan, đồng, kẽm và molipden Goyal M., 1979 dẫn trong tài liệu.
Các tác giả Tạ Thu Cúc, Trần Khắc Thi và cộng sự, cho biết, trong các nguyên tố đa lượng, cà chua cần nhiều kali nhất, sau đó là đạm rồi đến lân. Các nguyên tố trung lượng và vi lượng cũng cần thiết cho quá trình sinh trưởng của cây. Theo Endelschein, 1962, dẫn trong tài liệu của Tạ Thu Cúc, muốn đạt sản lượng 50 tấn/ha, cây cà chua cần hút từ đất 479 kg nguyên tố dinh dưỡng. Trong đó khoảng 73% tập trung vào cho quả, 27% tập trung vào cho thân lá.
Cà chua nếu được bón phân thích hợp sẽ nâng cao sản lượng và chất lượng quả. Tác giả Tạ Thu Cúc cho rằng, về nguyên tắc cần phải phối hợp một tỷ lệ và khối lượng hợp lý giữa phân hữu cơ và phân vô cơ là điều kiện quan trọng để đảm bảo năng suất và chất lượng cà chua. Theo khuyến cáo của Cục Trồng trọt thì lượng kali thích hợp cho cà chua từ 150-180 kg K2O/ha. Giá thể xơ dừa là loại giá thể dinh dưỡng gồm chủ yếu là xenlulo chiếm 80%, ngoài ra lignin chiếm 18% và các hợp chất khác như tanin.
Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của giá thể xơ dừa chứa 67.42% pH-KCl, Tỉ trọng (d) = 1. Độ thoáng khí cao, tăng độ thông thoáng cho môi trường rễ cây trồng, giúp cây tăng khả năng hấp thu chất dinh dưỡng. CEC: trung bình – Luan van 5 cao. Xơ dừa có tỷ trọng thấp.
Có tính ổn định cao. Tỷ lệ C/N vừa phải, phân hủy chậm. Trấu hun là giá thể sạch (không có nấm bệnh, vi khuẩn), tơi xốp, thoáng khí tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt. Chi phí sản xuất thấp, giá thành rẻ hơn so với các loại giá thể khác.
Cung cấp nguồn Kali lớn cho cây nên trấu hun có thể dùng bổ sung cho cây ăn quả khi cây bước vào giai đoạn dưỡng quả. Tuy nhiên kém dinh dưỡng do trấu hun sau khi được đốt từ vỏ trấu tươi thì thành phần chính của nó chỉ là carbonhydrat và kali. Hấp thụ nhiệt vì có hàm lượng carbon cao, không tốt cho rễ cây vào những ngày nhiệt độ cao, nắng nóng. Giữ nước kém, giá thể chỉ dùng trấu hun hoặc trộn nhiều trấu hun sẽ nhanh khô, đặc biệt vào những ngày nắng nóng.
Nguồn gốc và phân bố của cây cà chua Cà chua (Solanum lycopersicon Mill.) là một loại rau ăn quả được trồng khắp các nước trên thế giới. Theo tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng: bờ biển Tây Nam Mỹ nằm giữa dãy núi Andes và biển, trải dài từ Ecuador đến Peru là trung tâm khởi nguyên của cà chua. Theo De Candolle và nhiều tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng: cà chua trồng hiện nay có nguồn gốc từ Pêru, Ecuador, Chilê, Bolivia và các nước Nam Mỹ thuộc khu vực nhiệt đới khô hạn. Học thuyết về trung tâm phát sinh cây trồng của N.
Valilov đề xướng và P. Zukovxki bổ sung, cho rằng quê hương của cây cà chua ở vùng Nam Mỹ. Nhiều tài liệu nghiên cứu của các tác giả De Calldolle (1884), Muler (1940), Lukwill (1943) và Sinskaia (1969) cho rằng số lượng lớn của cà chua hoang dại cũng như cà chua trồng được tìm thấy ở Pêru, Equado, Bolivia. Quá trình thuần hoá và du nhập của cà chua đến các Châu lục có thể tóm tắt như sau: Theo tài liệu từ Châu Âu thì chắc chắn cà chua được người Aztec và người Toltec mang đến.
Đầu tiên năm 1554 nhà nghiên cứu về thực vật Pier Luan van 6 Andrea Mattioli giới thiệu những giống cà chua của Mehico có màu vàng nhạt và đỏ nhạt. Năm 1960 ở Bắc Âu thời gian đầu cà chua chỉ được dùng để trang trí và thoả trí tò mò. Mặc dù cà chua đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm, nhưng thời bấy giờ người ta vẫn quan niệm là cà chua là một cây trồng độc hại vì nó có họ hàng với loại cà độc dược. Đầu thế kỷ thứ 18, các giống cà chua đã trở lên đa dạng và phong phú, nhiều vùng đã trồng cà chua để làm thực phẩm.
Cuối thế kỷ 18, cà chua mới được dùng làm thực phẩm ở Nga và Italia. Đến thế kỷ thứ 19 cà chua đã trở thành thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày. Theo tác giả Trần Khắc Thi và Mai Thị Phương Anh cho biết, từ châu Mỹ cà chua được các thương gia Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha di chuyển sang trồng ở châu Âu và châu Á, sau đó từ châu Âu được chuyển sang châu Phi nhờ những người dân đi khai phá lục địa. Ở châu Á, cà chua được du nhập đầu tiên vào Philippin, đảo Java và Malayxia qua các thương nhân và thực dân Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha vào thế kỷ 17, sau đó được trồng phổ biến ra các vùng khác trong khu vực.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, cà chua được nhập vào Việt Nam từ thời gian thực dân Pháp chiếm đóng. Cho đến thế kỷ 18 cà chua mới được xác định là cây thực phẩm. Cây thực phẩm này lần đầu tiên được trồng ở Italia và Tây Ban Nha, đến năm 1750 được dùng làm thực phẩm ở Anh, sau đó được lan rộng khắp mọi nơi trên thế giới. Ở Italia cà chua có tên gọi là “Pomid’oro” nghĩa là “quả táo vàng”, ở Pháp cà chua mang tên rất hấp dẫn “Pomme d’amour” “quả táo tình yêu”.
Cuối thế kỷ 18 cà chua bắt đầu được trồng ở các nước thuộc Liên Xô cũ, sau đó giữa thế kỷ 19 mới được chấp nhận một cách rộng rãi ở Hoa Kỳ, Pháp và các nước khác. Ngày nay cà chua là một loại rau được trồng trong vườn phổ biến nhất ở Mỹ. Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới và Việt Nam. Tổng quan tình hình sản xuất cà chua trên thế giới Trong giai đoạn 2015 – 2019, tình hình sản xuất cà chua trên thế giới có những biến đổi về cả diện tích, năng suất và sản lượng, số liệu được thể hiện qua bảng 1.1 như sau: Bảng 1.1: Số liệu diện tích, năng suất, sản lượng cà chua trên toàn thế giới giai đoạn 2015 - 2019 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn) 2015 4.329 Nguồn: FAOSTAT, 2021 Trong 5 năm (từ năm 2015 đến năm 2019) diện tích cà chua thế giới tăng lên 4,29% (từ 4,82 triệu ha tăng lên 5,03 triệu ha) và sản lượng tăng 2,44% lần (từ 176,46 triệu tấn lên 180,76 triệu tấn).
Có thể thấy, năm 2015, năng suất trung bình đạt 36,85 tấn/ha, sang đến năm 2017 đạt mức cao nhất 37,6 tấn/ha, tuy nhiên đến năm 2019, năng suất trung bình giảm xuống còn 35,93 tấn/ha, có thể đánh giá là thấp nhất trong giai đoạn. Tuy nhiên, có thể lý giải được việc năng suất giảm xuống là do các nước trên thế giới đã ứng dụng các công nghệ sản xuất theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ nhằm đáp ứng nhu cầu về thực phẩm của con người ngày càng yêu cầu cao về chất lượng an toàn thực phẩm. Tình hình sản xuất cà chua tại Việt Nam Ở Việt Nam, cà chua là loại rau ăn quả chủ lực được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ưu tiên phát triển với diện tích trồng trong những năm gần đây dao động từ 23 – 25 nghìn ha. Trước đây, chỉ tập trung ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, nhưng nay mở rộng đến các tỉnh Luan van 8 miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ, do áp dụng những giống mới, có khả năng thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu đa dạng.
Sản xuất cà chua của nước ta tăng mạnh về cả diện tích trồng và sản lượng. Trên thực tế, diện tích trồng cà chua tăng mạnh trong giai đoạn này là do tăng nhanh về diện tích trồng cà chua trái vụ (vụ thu đông và vụ xuân hè), mà trong đó vai trò của các giống chịu nhiệt trồng trái vụ là khá rõ ràng, bảng 1. thể hiện tình hình sản xuất cà chua tại Việt Nam giai đoạn 2013 – 2018 như sau: Bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua của Việt Nam giai đoạn 2013 – 2018 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn) 2013 26.888,5 Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2019 Phần lớn cà chua ở nước ta được trồng ở các tỉnh phía Bắc, tập trung lớn ở đồng bằng sông Hồng (Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Tây, Nam Định…) chiếm trên 60% diện tích của cả nước.
Tại các tỉnh phía Nam ước đạt 9.000 ha, chiếm khoảng 40% diện tích trồng cà chua cả nước như: Lâm Đồng, An Giang, TP. Hồ Chí Minh, Bình Thuận… Trong đó, Lâm Đồng chiếm diện tích lớn nhất, khoảng 7.000 ha, năng suất trung bình đạt từ 50 – 60 tấn/ha. Hiện nay, cùng với chính sách mở cửa, hòa nhập vào thương mại quốc tế, xuất khẩu của Việt Nam nói chung và ngành rau quả nói riêng đã có những chuyển biến mới. Mục tiêu sản xuất cà chua không những đáp ứng nhu cầu nội tiêu mà còn tạo ra sản lượng lớn để phục vụ xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Muốn đạt được mục tiêu này, ngoài việc tiếp thị và xúc tiến thương mại, chúng ta còn phải làm tốt công tác khoa học công nghệ, Luan van 9 tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh cao, cần bộ có bộ giống tốt cho từng thời vụ trồng và từng vùng sinh thái tạo cho cây có khả năng chống chịu tốt đối với điều kiện ngoại cảnh cũng như sâu bệnh hại, có quy trình canh tác thích hợp cho từng vùng, mỗi vụ trồng và các giống khác nhau để phát huy tối đa tiềm năng năng suất của giống, sẽ làm giảm chi phí sản xuất, cho năng suất, chất lượng bảo đảm theo các tiêu chuẩn. Tình hình nghiên cứu về giá thể trồng cây và dinh dưỡng bón cho cây trồng trên nền giá thể trên thế giới và Việt Nam 1. Tổng quan về giá thể trồng cây và dinh dưỡng bón cho cây trồng trên nền giá thể trên thế giới 1.