MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trà Hoa Vàng (Camelia) thuộc chi Camellia là một chi lớn thuộc họ Chè Theaceae. Các loài trong chi Camellia có nhiều tác dụng như làm gỗ, làm đồ gia dụng bền chắc, lá hoa làm đồ uống, làm dược liệu và làm cây cảnh. Ngoài ra,có thể trồng dưới tán cây khác trong các đai rừng phòng hộ chống xói mòn, nuôi dưỡng nguồn nước Ngô Quang Đê (1996) [2].
Chi Camellia trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều loài có hoa đẹp với đủ các màu sắc khác nhau như trắng,đỏ, hồng và nhiều màu sắc lạ mắt, độc đáo được lai tạo đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà chơi cảnh. Trong số đó, các loài Trà Hoa Vàng là loài hiện mới chỉ phát hiện được tại Việt Nam và Trung Quốc. Trà Hoa Vàng là một loại đồ uống bổ dưỡng cao cấp có tác dụng phòng và chữa bệnh tốt, các ứng dụng khác sử dụng các chất dinh dưỡng trong lá, hoa còn có tác dụng hạ huyết áp, tim mạch, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu, tăng cường hệ miễn dịch nhưng chưa được khai thác, do rất hạn chế về nguồn giống Chu Tương Hồng (1993) [4]. Ngoài ra đây còn là một loài cây cảnh quan được ưa chuộng do màu vàng của trà hoa vàng rất đặc trưng, khó có thể tạo ra được bằng phương pháp lai hữu tính.
Trà Hoa Vàng còn có giá trị sử dụng để lấy gỗ, có thể làm cây trồng tầng dưới ở các đai rừng phòng hộ. Ngày nay các nhà thực vật thế giới xem các loài Trà Hoa Vàng là nguồn gen quý hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt Trần Ninh và Hakoda Naotoshi 2010) [7]. Ở Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỷ XX Trà Hoa Vàng được phát hiện ở nhiều nơi ở một số vùng phía Bắc. Đây là nguồn gen vô cùng quý cho hệ thực vật nói riêng và của Việt Nam nói chung đây là loài có hoa to, màu vàng đậm, óng, rất đẹp.
Tuy nhiên, trong những năm qua, tư thương đã thu gom từ rừng tự nhiên rất nhiều hoa Trà trên để buôn bán, với giá khoảng trên Luan van 2 1.000/1kg hoa tươi, thậm chí thu mua cả cây tươi với giá 20. Sau đó sẽ được xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch. Cùng một số nguyên nhân khác làm cho Trà Hoa Vàng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong tự nhiên Trần Ninh và Hakoda Naotoshi 2010) [7]. Người dân tại vùng đất tỉnh Yên Bái đa số họ lại không biết chính xác giá trị hay tác dụng của loại cây này nên chỉ cần có người thu mua, họ sẵn sàng vào rừng sâu để thu hái bán cho thương lái, Trà Hoa Vàng phân bố chủ yếu tại Tân Hợp, Ngòi A, Châu Quế Hạ, Phong Dụ Thượng, Xuân Tầm, Yên Thái, Mỏ Vàng, Nà Hẩu,… Nguy cơ loài cây này sẽ bị khác thác cạn kiệt.
Vì thế việc nghiên cứu các biện pháp nhân giống, chăm sóc để bảo tồn và phát triển các loài Trà Hoa Vàng này là một việc làm cần thiết.Tuy nhiên cho tới nay những nghiên cứu về các loài Trà Hoa Vàng còn rất hạn chế. Để góp phần cho công tác bảo tồn phát triển loài cây Trà Hoa Vàng và ngăn chặn các tổn thất đa dạng sinh học. Đồng thời tạo hướng sản xuất hàng hóa loài cây này phục vụ nhu cầu sử dụng cây cảnh, cây dược liệu, tăng thu nhập cho người dân địa phương và giảm áp lực của cộng đồng lên tài nguyên thiên nhiên ,với điều kiện đất đai và khí hậu của tỉnh Yên Bái, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích ra rễ N3M đến khả năng hình thành cây hom Trà Hoa Vàng tại Yên Bái”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được nồng độ thuốc N3M kích thích ra rễ thích hợp nhất cho nhân giống bằng phương pháp giâm hom trong sản xuất giống cây Trà Hoa Vàng.
Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng nhân giống loài Trà Luan van 3 Hoa Vàng. Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu hoa trà nói chung và Trà Hoa Vàng nói riêng. Mặt khác qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài này sẽ giúp tôi làm quen được với việc nghiên cứu học, bên cạnh đó còn giúp tôi củng cố được lượng kiến thức chuyên môn đã học, có thêm cơ hội kiểm chứng những lý thuyết đã học trong nhà trường đúng theo phương châm học đi đôi với hành.
Ý nghĩa thực tiễn Các kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống và chăm sóc cây Trà Hoa Vàng đồng thời góp phần vào việc bảo tồn, phát triển Trà Hoa Vàng tại Yên Bái. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống để cung cấp hạt hoặc hom cành cho sản xuất trên quy mô lớn và cho các bước cải thiện giống theo các phương thức sinh sản thích hợp. Nhân giống bằng hom (cutting propagation) là một trong những phương pháp nhân giống vô tính ,dựa vào khả năng hình thành rễ bất định của cơ quan sinh dưỡng.
Đó là việc dùng một phần lá, một đoạn thân,đoạn cành, hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây hom, cây hom có đặc tính di truyền như của cây mẹ Nguyễn Hiền (2011) [5]. * Ưu điểm của giâm hom Hệ số nhân cao Giữ nguyên đặc tính quý của cây mẹ; năng suất cao, chất lượng tốt và tính chống chịu ổn định,có khả năng khống chế số lượng đực hoá , hầu hết đều ra quả nhanh Mai Quang Trường và Lương Thị Anh (2007) [12]. * Nhược điểm của giâm hom Giâm hom đòi hỏi kỹ thuật công phu, giá thành cao hơn nhân giốngbằng hạt (chi phí cao gấp 6 - 8 lần so với trồng bằng hạt).Hạn chế tuổi của cây mẹ lấy hom Mai Quang Trường và Lương Thị Anh (2007) [12]. Cơ sở phát sinh phát triển cá thể Bất kỳ một loài sinh vật nào trong quá trình sinh trưởng và phát triển đều chịu sự điều hoà của bộ gen và bộ gen do môi trường xung quanh điều chỉnh.
Trong bộ gen sẽ có những gen hoạt động theo điều kiện nhất định và được điều khiển nhịp nhàng theo môi trường với sự phát triển cá thể đặc trưng cho từng loài cụ thể. Luan van 5 Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây được thể hiện qua các giai đoạn: non trẻ, chuyển tiếp, thành thục. Khả năng ra mầm rễ ở các bộ phận cũng khác nhau, ở các bộ phận thuộc giai đoạn non trẻ khả năng ra rễ lớn hơn ở giai đoạn trưởng thành. Sự hình thành rễ bất định Rễ bất định là rễ được sinh ra ở bất kỳ bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của nó, trong hom giâm và chiết điều quan trọng là quá trình hình thành rễ bất định.
Có 2 loại rễ: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh. Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng chỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ. Rễ mới sinh: Là loại rễ sinh ra sau khi cắt và giâm hom. Khi đó các tế 5 bào chỗ bị cắt, bị tổn thương, và các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗ được mở ra là giai đoạn các chu trình trao đổi chất và vận chuyển các chất trong thân cây, dẫn đến dòng nhựa luyện được dẫn từ lá xuống đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành mô sẹo, đây là cơ sở hình thành rễ bất định Lê Đình Khả và Dương Mông Hùng (2003) [6].
Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm 3 giai đoạn: Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt. Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo. Các tế bào vùng tượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu hình thành rễ. Ảnh hưởng của môi trường sống đến quá trình giâm hom Thông thường người ta chia các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm thành 2 nhóm: Luan van 6 Nhóm nhân tố nội sinh bao gồm; đặc điểm di truyền của loài, của xuất xứ và của cá thể, vai trò của tuổi cây, tuổi cành, vị trí cành.
Nhóm nhân tố ngoại sinh gồm; các loại chất kích thích ra rễ và các nhân tố ngoại cảnh như (độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ,…) * Nhân tố ngoại sinh Các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng đến ra rễ của hom giâm: Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành, nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom: Mùa vụ, điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, giá thể giâm hom. Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành: Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, đặc biệt là của cây non. Điều kiện ánh sáng cho cây mẹ lấy cành ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm. Thời vụ giâm hom: Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom giâm.
Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời vụ lấy cành và thời vụ giâm hom. Một số loài có thể giâm hom quanh năm song cũng có những cây có mùa vụ rõ rệt. Thời vụ giâm hom đạt kết quả cao hay thấp thường gắn với điều kiện thời tiết, khí hậu trong năm, thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân - hè, sinh trưởng chậm vào thời kỳ cuối thu và mùa đông. Vì vậy thời gian giâm hom tốt nhất vào mùa xuân, hè và đầu thu.
Thời vụ giâm hom có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của nhân giống bằng hom cành. Đối với loài cây nghiên cứu là cây gỗ cứng và rụng lá thì nên lấy cành lúc cây bắt đầu vào thời ngủ nghỉ, còn đối với loài cây gỗ mềm nửa cứng không rụng lá thì nên lấy hom vào mùa sinh trưởng để có kết quả giâm hom tốt nhất và cho hiệu quả cao nhất. Luan van 7 Ánh sáng: Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sống của cây vì đó là nhân tố cần thiết cho quá trình quang hợp và trong quá trình ra rễ của hom giâm và nhất là ánh sáng tán xạ.