Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây bưởi (Citrus grandis L. Osbeck) là một trong những loại cây ăn quả có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao tại Việt Nam. Quả bưởi cung cấp nguồn năng lượng, vitamin (A, C, nhóm B) cùng nhiều khoáng chất vi lượng và hoạt chất sinh học có ích trong công nghiệp thực phẩm, dược phẩm. Giống bưởi đỏ Tân Lạc (nguồn gốc từ Hòa Bình) có đặc tính quả tròn, vỏ vàng, ruột múi hồng đỏ, tép giòn ngọt không he đắng, khối lượng quả 1,2 - 1,4 kg và năng suất đạt 260 - 320 quả/cây đối với cây 7 năm tuổi. Giống cây này đã được Cục Trồng trọt cho phép trồng thử nghiệm tại các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc với khả năng thích nghi tốt.
Tuy nhiên, tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, việc mở rộng diện tích bưởi đỏ Tân Lạc vẫn gặp nhiều hạn chế do tập quán canh tác quảng canh, bón phân mất cân đối, thiếu hụt dinh dưỡng, quy trình kỹ thuật cắt tỉa tạo tán và sử dụng phân bón lá chưa đồng bộ. Thêm vào đó, việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học không đúng liều lượng làm tăng tỷ lệ quả bị sâu bệnh hại, rám vỏ, làm suy giảm chất lượng thương phẩm và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Xác định ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống bưởi đỏ Tân Lạc tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, làm cơ sở khoa học để mở rộng cơ cấu cây ăn quả của địa phương.
- Nhiệm vụ/Yêu cầu nghiên cứu:
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của giống bưởi đỏ Tân Lạc so với giống đối chứng (bưởi Đại Minh) tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá (Đầu Trâu 902, Komix) kết hợp biện pháp cắt tỉa đến sinh trưởng, phát triển của giống bưởi đỏ Tân Lạc.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây bưởi đỏ Tân Lạc ghép trên gốc chấp và cây bưởi Đại Minh ghép trên gốc chấp (trồng từ tháng 12/2016).
- Phạm vi không gian: Vườn thực nghiệm tại xã Tân Nguyên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (trên chân đất đồi, mật độ 525 cây/ha, khoảng cách 4m x 5m).
- Phạm vi thời gian: Thời gian theo dõi, thu thập số liệu thực địa từ tháng 7/2019 đến tháng 12/2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu dựa trên các nguyên lý nông học và sinh lý dinh dưỡng của cây ăn quả có múi (Citrus):
- Cây có múi có nhu cầu hấp thu dinh dưỡng khoáng đa lượng (N, P, K), trung lượng (Ca, Mg, S) và vi lượng (Zn, Cu, Fe, B, Mn, Mo) quanh năm, đặc biệt trong các giai đoạn phát lộc, phân hóa mầm hoa và nuôi quả. Theo các tài liệu chuyên ngành, để tạo ra 1 tấn quả bưởi, cây lấy đi từ đất khoảng 1,18 - 1,29 kg N; 0,2 - 0,27 kg P₂O₅; 2,06 - 2,61 kg K₂O và 0,97 - 1,04 kg MgO.
- Phương pháp bón phân qua lá cho phép cây hấp thụ dinh dưỡng trực tiếp qua khí khổng với hiệu suất cao (lên đến 95%), nhanh chóng bổ sung dinh dưỡng vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng (GA₃, α-NAA, β-NOA), khắc phục tình trạng thiếu hụt cục bộ do rễ hấp thu kém trong điều kiện đất dốc rửa trôi.
- Kỹ thuật cắt tỉa cành định kỳ giúp điều tiết sinh trưởng sinh dưỡng và sinh sản, tạo bộ khung tán thông thoáng, nâng cao khả năng quang hợp và hạn chế sâu bệnh hại phát sinh.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Nghiên cứu sử dụng phương pháp bố trí thí nghiệm trên cây ăn quả lâu năm theo hướng dẫn của Viện Nghiên cứu Rau quả (Trâu Quỳ, Hà Nội) và quy trình thâm canh của Trung tâm Giống cây trồng tỉnh Hòa Bình.
- Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của giống bưởi đỏ Tân Lạc so với giống bưởi Đại Minh.
- Công thức: CT1 (Đối chứng - Bưởi Đại Minh ghép gốc chấp); CT2 (Bưởi đỏ Tân Lạc ghép gốc chấp).
- Bố trí: Khối tuần tự có dải bảo vệ, 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc 5 cây (tổng cộng 30 cây theo dõi).
- Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và cắt tỉa đối với giống bưởi đỏ Tân Lạc.
- Bố trí: Khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD), 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc 5 cây (tổng số 45 cây theo dõi).
- Công thức:
- CT1 (Đối chứng): Không phun phân bón lá + cắt tỉa thường xuyên theo các đợt lộc.
- CT2: Phun phân bón lá Komix 201 (N 2,6%, P₂O₅ 7,5%, K₂O 2,2%, pH 7,0 - 9,0) + cắt tỉa thường xuyên.
- CT3: Phun phân bón lá Đầu Trâu 902 (N 17%, P₂O₅ 21%, K₂O 10%, bổ sung Ca, Mg, Zn, Cu, B, Fe, Mn, Mo, Pennac, GA₃, α-NAA, β-NOA; nồng độ 10g/10 - 12 lít nước, phun 6 lần, cách nhau 10 ngày từ tháng 6 đến tháng 8) + cắt tỉa thường xuyên.
- Nền phân bón cơ bản chung: Bón lót/bón gốc 10 kg phân chuồng + 600g N (1,3 kg urê) + 300g P₂O₅ (1,7 kg lân supe) + 650g K₂O (1,1 kg KCl) + 1 kg vôi bột/cây/năm, chia bón 3 đợt (bón thúc hoa tháng 2, bón thúc quả tháng 4 - 5, bón sau thu hoạch tháng 11 - 12).
- Phương pháp điều tra sâu bệnh: Dựa theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-119:2012/BNNPTNT về phương pháp điều tra, phát hiện sinh vật hại cây ăn quả có múi (phân cấp hại từ cấp 1 đến cấp 9).
- Xử lý số liệu: Tính toán các giá trị trung bình, hệ số biến động (CV%), sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa (LSD₀,₀₅) và mức ý nghĩa P bằng phần mềm Microsoft Excel và SAS 9.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của việc phát triển cây bưởi đỏ Tân Lạc tại vùng đất đồi huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp hàng hóa. Xác định mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu kỹ thuật thâm canh và ý nghĩa thực tiễn phục vụ nhân rộng mô hình tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tổng hợp bức tranh tổng thể về tình hình sản xuất bưởi trên thế giới và tại Việt Nam:
- Dẫn liệu FAO (2018) cho thấy sản lượng bưởi toàn cầu đạt khoảng 9,3 triệu tấn; Châu Á chiếm diện tích lớn nhất (243.374 ha) và sản lượng cao nhất (6,97 triệu tấn, chiếm 80,22% thế giới).
- Tại Việt Nam, diện tích bưởi năm 2018 đạt 86.370 ha với nhiều vùng đặc sản (Năm Roi, Da Xanh, Phúc Trạch, Đoan Hùng, Đại Minh...).
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về nhu cầu dinh dưỡng khoáng (N, P, K, vi lượng), vai trò của chất kích thích sinh trưởng (GA₃ làm tăng đậu quả, giảm số hạt), kỹ thuật bón phân qua lá (tăng khả năng hấp thu lên 95%), các biện pháp đốn tỉa tạo hình theo chu kỳ sinh trưởng và quy trình phòng trừ sâu bệnh hại chính (sâu vẽ bùa, rệp muội, bệnh loét do vi khuẩn).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết vật liệu nghiên cứu (giống bưởi đỏ Tân Lạc và bưởi Đại Minh ghép trên gốc chấp xuất vườn từ Trung tâm Giống cây ăn quả có múi - Viện Nghiên cứu Rau quả; phân bón lá Đầu Trâu 902 và Komix 201); địa điểm thí nghiệm tại xã Tân Nguyên; sơ đồ bố trí các khối thí nghiệm; các chỉ tiêu theo dõi động thái tăng trưởng (chiều cao thân, đường kính gốc, đường kính tán, kích thước lá, các chỉ tiêu lộc Thu, phân cành) và phương pháp tính toán xử lý thống kê sinh học.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này phản ánh toàn bộ số liệu thực nghiệm thu thập từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2019:
1. Khả năng sinh trưởng của 2 giống bưởi (Thí nghiệm 1)
Cả hai giống đều đạt tỷ lệ sống 100%. Các chỉ tiêu sinh trưởng hình thái của giống bưởi đỏ Tân Lạc đều thể hiện ưu thế phát triển rõ rệt so với giống bưởi Đại Minh:
Bảng 1: So sánh một số chỉ tiêu sinh trưởng hình thái và lộc Thu giữa 2 giống bưởi (Thí nghiệm 1)
| Chỉ tiêu theo dõi |
Bưởi Đại Minh (CT1 - ĐC) |
Bưởi đỏ Tân Lạc (CT2) |
Mức ý nghĩa ($P$) |
LSD₀,₀₅ |
| Chiều cao cây tháng 12/2019 (cm) |
225,13 |
270,66 |
< 0,05 |
- |
| Đường kính gốc ghép tháng 12/2019 (cm) |
5,29 |
5,87 |
< 0,05 |
0,13 |
| Chiều dài lá (cm) |
12,10 |
13,42 |
< 0,05 |
0,17 |
| Chiều rộng lá (cm) |
5,47 |
5,67 |
< 0,05 |
0,15 |
| Đường kính cuống lá (mm) |
2,02 |
2,14 |
< 0,05 |
0,01 |
| Số cành cấp 1 (cành) |
5,40 |
4,53 |
< 0,05 |
0,75 |
| Số cành cấp 2 (cành) |
3,60 |
4,26 |
< 0,05 |
0,57 |
| Chiều dài lộc Thu sau 49 ngày (cm) |
19,70 |
20,62 |
< 0,05 |
0,41 |
| Số lá/lộc Thu sau 42 ngày (lá) |
12,67 |
14,43 |
< 0,05 |
0,72 |
| Chiều dài cành Thu thành thục (cm) |
17,90 |
18,67 |
< 0,05 |
0,33 |
| Đường kính gốc cành Thu thành thục (cm) |
0,47 |
0,56 |
< 0,05 |
0,04 |
| Tổng số lộc/cành lộc thành thục |
5,20 |
6,53 |
< 0,05 |
1,25 |
Về thời gian phát sinh đợt lộc Thu: Giống bưởi đỏ Tân Lạc bắt đầu ra lộc ngày 1/8/2019, rộ ngày 16/8 và kết thúc ngày 20/9/2019 (thời gian từ xuất hiện đến thành thục là 50 ngày). Tốc độ tăng trưởng chiều dài lộc đạt nhanh nhất trong giai đoạn từ 14 đến 28 ngày sau khi nhú, sau 35 ngày dừng hẳn để tập trung phát triển diện tích lá.
2. Tình hình sâu bệnh hại
Cả hai giống bưởi thí nghiệm đều bị sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella) và muội đen (Capnodium citri) gây hại nhẹ ở cấp 1. Đối với bệnh loét sẹo do vi khuẩn trên cành lá non, giống bưởi Đại Minh bị nhiễm ở cấp 3, trong khi giống bưởi đỏ Tân Lạc thể hiện tính chống chịu tốt hơn, chỉ bị nhiễm ở cấp 1.
3. Ảnh hưởng của phân bón lá và cắt tỉa (Thí nghiệm 2)
Việc bổ sung phân bón lá kết hợp đốn tỉa định kỳ thúc đẩy rõ rệt sự tăng trưởng chiều cao cây bưởi đỏ Tân Lạc trong 6 tháng theo dõi:
Bảng 2: Động thái tăng trưởng chiều cao cây bưởi đỏ Tân Lạc theo các công thức bón phân (Thí nghiệm 2)
| Công thức thí nghiệm |
Tháng 7 (cm) |
Tháng 8 (cm) |
Tháng 9 (cm) |
Tháng 10 (cm) |
Tháng 11 (cm) |
Tháng 12 (cm) |
| CT1: Không phun (Đối chứng) |
240,60 |
242,60 |
245,60 |
248,60 |
250,60 |
252,60 |
| CT2: Phân bón lá Komix 201 |
280,93 |
282,93 |
285,93 |
289,07 |
291,07 |
293,07 |
| CT3: Phân bón lá Đầu Trâu 902 |
292,87 |
295,00 |
298,00 |
301,00 |
303,00 |
305,00 |
| LSD₀,₀₅ |
39,20 |
39,10 |
39,10 |
39,29 |
39,29 |
39,29 |
| CV (%) |
6,30 |
6,30 |
6,23 |
6,20 |
6,15 |
6,13 |
Công thức phun phân bón lá Đầu Trâu 902 kết hợp cắt tỉa đạt chiều cao cây lớn nhất (305,00 cm vào tháng 12/2019), cao hơn công thức phun Komix 201 (293,07 cm) và vượt trội so với đối chứng không phun (252,60 cm) với sự sai khác có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$).
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Khái quát các kết luận thực nghiệm về khả năng sinh trưởng thích nghi của bưởi đỏ Tân Lạc tại Yên Bình và khẳng định hiệu lực của phân bón lá Đầu Trâu 902 kết hợp cắt tỉa; đưa ra các đề xuất về tiếp tục theo dõi các chỉ tiêu năng suất, phẩm chất quả thương phẩm trong các năm tiếp theo.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khả năng thích ứng và sinh trưởng: Giống bưởi đỏ Tân Lạc trồng tại xã Tân Nguyên, huyện Yên Bình có tỷ lệ sống đạt 100%, sinh trưởng khỏe. Chiều cao cây đạt 270,66 cm (vượt giống bưởi Đại Minh 45,53 cm), đường kính gốc đạt 5,87 cm (vượt 0,58 cm). Lộc Thu thành thục có kích thước cành dài 18,67 cm, đường kính 0,56 cm và số lá/lộc đạt 14,43 lá.
- Khả năng chống chịu sâu bệnh: Bưởi đỏ Tân Lạc ít bị sâu bệnh hại nghiêm trọng; mức độ gây hại của sâu vẽ bùa và nấm muội đen ở cấp 1; mức độ nhiễm bệnh loét vi khuẩn ở cấp 1 (thấp hơn giống bưởi Đại Minh ở cấp 3).
- Hiệu lực của biện pháp kỹ thuật: Phun phân bón lá Đầu Trâu 902 định kỳ (6 lần, cách nhau 10 ngày trong tháng 6 - 8) kết hợp cắt tỉa cành định kỳ theo các đợt lộc cho tốc độ sinh trưởng dinh dưỡng cao nhất, đưa chiều cao cây đạt 305,00 cm sau 6 tháng theo dõi, vượt trội so với đối chứng không phun phân bón lá (252,60 cm).
Giải pháp và khuyến nghị kỹ thuật
- Áp dụng công thức phân bón bổ sung qua lá Đầu Trâu 902 (10g/10 - 12 lít nước, phun ướt đẫm tán định kỳ 6 lần trong các tháng 6 - 8) kết hợp với kỹ thuật đốn tỉa cành vô hiệu, cành sâu bệnh sau các đợt lộc nhằm kích thích phân cành cấp 2 và nuôi dưỡng lộc Thu thành thục khỏe mạnh.
- Tiếp tục duy trì nền phân bón gốc cân đối (phân chuồng kết hợp tỷ lệ N:P₂O₅:K₂O thích hợp chia 3 lần bón) và áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) để giảm thiểu việc sử dụng thuốc hóa học trên vườn bưởi.
Đóng góp học thuật và thực tiễn
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm có hệ thống đầu tiên về các chỉ tiêu nông sinh học, động thái ra lộc Thu và khả năng thích nghi của giống bưởi đỏ Tân Lạc khi di thực về vùng sinh thái đất đồi huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
- Xác lập dẫn liệu khoa học phục vụ hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, hỗ trợ địa phương trong công tác chuyển đổi cơ cấu cây ăn quả đặc sản chất lượng cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi thời gian nghiên cứu thực nghiệm thực địa diễn ra trong 6 tháng (từ tháng 7/2019 đến tháng 12/2019) trên vườn cây 3 năm tuổi (trồng từ tháng 12/2016). Do đó, các số liệu trong báo cáo tập trung chủ yếu vào sinh trưởng sinh dưỡng (thân, lá, cành, lộc Thu) và tình hình sâu bệnh trong năm 2019.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi các đợt lộc Xuân, lộc Hè, thời gian ra hoa, tỷ lệ đậu quả, năng suất thực thu (số quả/cây, khối lượng quả) và các chỉ tiêu phẩm chất quả (độ Brix/độ ngọt, độ chua, tỷ lệ phần ăn được, số hạt/quả) khi vườn cây bước vào thời kỳ kinh doanh ổn định ở các năm tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên ngành Nông học, Khoa học cây trồng, Trồng trọt: Tham khảo phương pháp thiết kế thí nghiệm nông học trên cây ăn quả lâu năm (khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCBD), kỹ thuật đo đạc động thái tăng trưởng hình thái, phương pháp theo dõi chu kỳ lộc và cách thức xử lý thống kê bằng phần mềm SAS/Excel.
- Cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên nông nghiệp: Ứng dụng quy trình phối hợp giữa phân bón qua lá (Đầu Trâu 902) và kỹ thuật đốn tỉa cành để hướng dẫn nông dân vùng Trung du miền núi phía Bắc chăm sóc vườn bưởi thời kỳ kiến thiết cơ bản.
- Các cơ sở sản xuất và nhà vườn: Tham khảo các đặc tính sinh trưởng và khả năng chống chịu bệnh loét của giống bưởi đỏ Tân Lạc trước khi đầu tư mở rộng diện tích canh tác trên đất đồi.
Câu hỏi thường gặp
1. Giống bưởi đỏ Tân Lạc trong nghiên cứu được ghép trên loại gốc ghép nào và trồng với mật độ bao nhiêu?
Giống bưởi đỏ Tân Lạc (cũng như giống đối chứng bưởi Đại Minh) trong thí nghiệm được ghép mắt trên gốc cây chấp. Vườn cây được bố trí với khoảng cách hàng cách hàng 5m, cây cách cây 4m, tương ứng mật độ 525 cây/ha trên chân đất đồi tại xã Tân Nguyên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
2. Sự khác biệt về khả năng sinh trưởng thân lá giữa giống bưởi đỏ Tân Lạc và giống bưởi Đại Minh được thể hiện qua những con số nào?
Đến tháng 12/2019, giống bưởi đỏ Tân Lạc đạt chiều cao cây 270,66 cm và đường kính gốc ghép 5,87 cm, cao hơn rõ rệt so với bưởi Đại Minh (chiều cao 225,13 cm và đường kính gốc 5,29 cm). Kích thước lá bưởi đỏ Tân Lạc (dài 13,42 cm; rộng 5,67 cm; cuống lá 2,14 mm) cũng lớn hơn lá bưởi Đại Minh (dài 12,10 cm; rộng 5,47 cm; cuống lá 2,02 mm).
3. Đợt lộc Thu năm 2019 của giống bưởi đỏ Tân Lạc diễn ra trong thời gian bao lâu và quy luật tăng trưởng chiều dài như thế nào?
Lộc Thu của bưởi đỏ Tân Lạc bắt đầu xuất hiện từ ngày 1/8/2019, ra rộ vào ngày 16/8 và kết thúc vào ngày 20/9/2019 (thời gian từ xuất hiện đến thành thục là 50 ngày). Lộc tăng trưởng chiều dài nhanh nhất trong giai đoạn từ 14 đến 28 ngày sau khi nhú (đạt 17,82 cm), sau 35 ngày tốc độ dài cành dừng hẳn (đạt 20,62 cm sau 49 ngày) để chuyển sang giai đoạn phát triển diện tích lá và tích lũy dinh dưỡng.
4. Thành phần và quy trình phun phân bón lá Đầu Trâu 902 trong thí nghiệm được áp dụng ra sao?
Phân bón lá Đầu Trâu 902 có thành phần gồm N (17%), P₂O₅ (21%), K₂O (10%), các chất trung - vi lượng (Ca, Mg, Zn, Cu, B, Fe, Mn, Mo, Pennac) và các chất điều hòa sinh trưởng (GA₃, α-NAA, β-NOA). Phân được pha theo tỷ lệ 10g cho 10 - 12 lít nước, phun đẫm tán cây định kỳ 6 lần, mỗi lần cách nhau 10 ngày trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 8/2019.
5. Kết quả đánh giá mức độ gây hại của sâu bệnh trên hai giống bưởi thí nghiệm có sự khác nhau như thế nào?
Cả hai giống đều nhiễm sâu vẽ bùa và muội đen ở mức độ nhẹ (cấp 1). Tuy nhiên, đối với bệnh loét sẹo vi khuẩn hại cành lá non, giống bưởi Đại Minh bị nhiễm ở cấp 3 (tỷ lệ diện tích bị hại > 10 - 20%), trong khi giống bưởi đỏ Tân Lạc chỉ bị nhiễm ở cấp 1 (tỷ lệ diện tích bị hại 1 - 10%), chứng minh khả năng chống chịu bệnh loét tốt hơn của bưởi đỏ Tân Lạc.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lục Yến Nhi đã hoàn thành việc đánh giá khả năng thích ứng nông sinh học của giống bưởi đỏ Tân Lạc tại vùng đất đồi xã Tân Nguyên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái trong giai đoạn 2016 - 2019. Kết quả nghiên cứu khẳng định bưởi đỏ Tân Lạc có sức sinh trưởng thân lá, khả năng phát triển cành lộc Thu và tính chống chịu bệnh loét vượt trội so với giống bưởi Đại Minh địa phương. Đồng thời, việc ứng dụng phân bón lá Đầu Trâu 902 kết hợp cắt tỉa định kỳ đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong việc thúc đẩy tăng trưởng chiều cao cây và hoàn thiện bộ khung tán, cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc mở rộng vùng trồng bưởi đặc sản tại tỉnh Yên Bái.