MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây bưởi (Citrus grandis L. Osbeck) là một loại cây ăn quả rất quen thuộc với người dân Việt Nam. Bưởi là loại quả tươi dễ vận chuyển, bảo quản được nhiều ngày mà vẫn giữ nguyên hương vị, phẩm chất.
Bưởi được nhiều người ưa chuộng vì không những có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao mà còn có giá trị trong y học và mỹ học. Bưởi là loài có phổ thích nghi rộng, có thể trồng khắp từ 420 vĩ bắc cho đến 420 vĩ nam, từ mặt biển lên đến độ cao 2000m [1]. Ở Việt Nam bưởi được trồng hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt đã hình thành những vùng bưởi cổ truyền mang tính đặc sản địa phương như bưởi Đoan Hùng - Phú Thọ, bưởi Diễn - Từ Liêm - Hà Nội, bưởi Phúc Trạch - Hương Khê - Hà Tĩnh, bưởi Thanh Trà - Huế, bưởi Năm Roi - Vĩnh Long… Hiện nay, phát triển cây ăn quả trong đó bao gồm cả cây bưởi là một định hướng được ưu tiên và là một chiến lược có lợi thế cạnh tranh cao. Giá trị dinh dưỡng mà cây ăn quả có múi đem lại đặc biệt từ quả bưởi là không nhỏ, hàm lượng và thành phần các chất trong quả với 100 g phần ăn được thì có 38 Kcal năng lượng, 9,62 g tinh bột, 20 IU vitamin A.
Trong 1g chất xơ thực phẩm có: 0,76 g protein, 0,04 g chất béo, 0,034 mg vitamin B1, 0,027 mg vitamin B2, 0,22 mg vitamin B3, 0,036 mg vitamin B6, 44 mg vitamin C ngoài ra còn có: sắt, magiê, mangan, photpho, kali, natri, kẽm; trong lá, hoa, vỏ quả bưởi đều có tinh dầu. Vỏ quả bưởi còn có pectin, naringin (một loại glucozid), men tiêu hóa amyraza, và các loại men khác. Vì vậy mà bưởi giúp cho việc bảo vệ và ổn định sức khỏe con người. Bưởi Đỏ Tân Lạc có quả hình tròn, vỏ mầu vàng, khi chín múi bưởi có mầu hồng đỏ, quả có khối lượng trung bình từ 1,2 - 1,4 kg/quả.
Tép bưởi Tân Luan van 2 Lạc có mầu đỏ hồng, bó chặt, dễ tách, ăn rất giòn ngọt và không bị he đắng. Cây bưởi Đào Tân Lạc Hòa Bình (bưởi Đỏ Tân Lạc) cho năng suất rất cao và ổn định, với cây 7 năm tuổi cho năng suất từ 260 - 320 quả/cây. Giống bưởi Đỏ Tân Lạc đã được Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho trồng thử nghiệm tại các tỉnh vùng đồng bằng và Trung du miền núi phía Bắc đều sinh trưởng phát triển tốt, có khả năng thích nghi cao, cho năng suất cao và chất lượng tốt. Mặc dù có được những kết quả như trên, nhưng trong thực tế việc phát triển sản xuất bưởi Đỏ Tân Lạc vẫn chưa thực sự tương xứng với lợi thế và tiềm năng của vùng, do phần lớn người dân vẫn còn canh tác theo phương pháp quảng canh, bón phân, chăm sóc chưa đảm bảo quy trình kỹ thuật, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cho bưởi Đỏ Tân Lạc vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn đến năng suất và chất lượng của các vườn bưởi còn thấp và không đồng đều.
Một trong những nguyên nhân chủ yếu có thể là do người trồng bưởi bón phân không cân đối, sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật; bón thiếu hụt nguồn dinh dưỡng, đặc biệt thiếu sự đầu tư việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như cắt tỉa, tạo hình, bón phân đầy đủ, cân đối kết hợp với phun phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm còn những hạn chế nhất định. Hoặc cũng có thể do phòng trừ sâu bệnh, hại chủ yếu là dùng thuốc hóa học tràn lan mặc dù đã dùng đúng thuốc nhưng phun chưa đảm bảo nồng độ, liều lượng dẫn đến tỷ lệ quả bị sâu bệnh hại trên cây vẫn cao, tỷ lệ quả bị dám nhiều, làm giảm mẫu mã và chất lượng quả; đồng thời việc sử dụng thuốc hóa học để diệt trừ sâu, bệnh đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe con người và ô nhiễm môi trường sinh thái. Việc tiến hành đưa giống bưởi Đỏ Tân Lạc vào nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống tại huyện Yên Bình, để giúp địa phương có căn cứ khoa học bổ sung vào cơ cấu cây ăn quả của huyện một giống bưởi mới có năng Luan van 3 suất cao và chất lượng tốt để nâng cao hiệu quả sản xuất, phục vụ nội tiêu và xuất khẩu đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường là rất cần thiết. Xuất phát từ những yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và phát triển giống bưởi đỏ Tân Lạc tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”.
Mục tiêu nghiên cứu đề tài Xác định được ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống bưởi đỏ Tân Lạc tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của giống bưởi Đỏ Tân Lạc tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng bưởi Đỏ Tân Lạc tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một tài liệu khoa học để làm cơ sở cho việc xây dựng biện pháp kỹ thuật thâm canh giống bưởi đỏ Tân Lạc, huyện Yên Bình nói riêng và tỉnh Yên Bái nói chung. - Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng bưởi đỏ Tân Lạc huyện Yên Bình - Yên Bái. - Sau khi kết thúc đề tài, tác giả có thể độc lập thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học khác và viết được báo cáo khoa học thành thạo. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để xây dựng và mở rộng mô hình diện tích trồng giống bưởi đỏ Tân Lạc tại huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái.
Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Bưởi (Citrus grandis L. Osbeck) là một trong những loài cây ăn quả có múi được trồng khá phổ biến ở nước ta cũng như các nước vùng châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Philippin vv. Ngoài ăn tươi, quả bưởi còn có thể chế biến thành nhiều mặt hàng có giá trị như nước bưởi, mứt, chè.
Vỏ quả, hoa, lá dùng để tinh chế dầu trong công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm. Quả bưởi tươi dễ vận chuyển, bảo quản được nhiều ngày mà vẫn giữ nguyên hương vị, phẩm chất. Bưởi được nhiều người ưa chuộng vì không những mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn có giá trị dinh dưỡng rất tốt với hàm lượng đường từ 8 - 10 mg, gluxit 7,3 mg, caroten 0,02 mg trong 100 gam phần ăn được. Ngoài ra còn có rất nhiều các vitamin, các khoáng chất ở dạng vi lượng rất cần thiết cho cơ thể con người.
Ngoài dùng ăn tươi, bưởi còn được chế biến thành nhiều sản phẩm có giá trị như nước quả, mứt,. Trong công nghiệp chế biến, vỏ, hạt dùng chế biến tinh dầu, bã tép để sản xuất péctin có tác dụng bồi bổ cơ thể. Đặc biệt bưởi còn được sử dụng trong việc chữa các bệnh về tim mạch, đường ruột cũng như chống ung thư (Trần Thế Tục,1995) [16], (Trần Như Ý và cs, 2000) [5]. Mỗi nguyên tố dinh dưỡng cây sử dụng đều có các giá trị tối ưu và tối đa.
Tại lượng bón mà cây trồng cho năng suất cao nhất gọi là giá trị tối đa về mặt kỹ thuật. Việc tăng năng suất, chất lượng bưởi phụ thuộc rất lớn vào các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt là bón phân. Sử dụng phân bón là một trong bốn yếu tố quan trọng hàng đầu trong thâm canh sản xuất nông nghiệp. Bón phân qua lá được sử dụng để bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây trồng một cách kịp thời các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng.
Phân bón lá có tác dụng làm tăng năng suất, tăng cường khả năng kháng sâu bệnh cho cây, tính chống Luan van 5 hạn và cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm. Phân bón lá còn giúp cho cây nhanh chóng phục hồi sau trồng, hoặc sau khi trải qua cả hiện tượng thời tiết bất thuận như nóng nắng, lạnh, khô hạn, úng ngập. Việc sử dụng phân bón (phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng) có thể làm tăng năng suất, chất lượng quả. Hiện nay trên thế giới đã nghiên cứu những vấn đề về phân bón và cho năng suất, chất lượng tốt.
Hiện nay ở Tân Lạc chưa nghiên cứu sâu về phân bón nên năng suất và chất lượng chưa được cao. Trên cơ sở khoa học đó mới tiến hành những nghiên cứu về phân bón để làm tăng năng suất bưởi đỏ Tân Lạc. Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới và trong nước 2. Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới Theo số liệu thống kê của FAO (2020) hàng năm trên thế giới sản xuất khoảng 9,3 triệu tấn bưởi cả 2 loại bưởi chùm (Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis).
Sản xuất bưởi chùm chủ yếu tập trung ở các nước châu Mỹ, châu Âu dùng cho chế biến nước quả. Bưởi chủ yếu được sản xuất ở các nước thuộc châu Á, tập trung nhiều ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan, Bangladesh,. được sử dụng để ăn tươi là chủ yếu. Diện tích cho thu hoạch, năng suất và sản lượng bưởi ở các châu lục trên thế giới năm 2018 được thể hiện ở bảng số liệu sau: Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi ở các châu lục trên thế giới năm 2018 Diện tích Năng suất Sản lượng TT Quốc gia (ha) (tạ/ha) (tấn) 1 Thế giới 374.971 6 Châu Đại Dương 1.724 7 Úc và New Zealand 1.255 (Nguồn: FAOSTAT, 2020)[34] Luan van 6 Qua bảng 2.1 cho thấy: về diện tích trồng bưởi của 6 châu lục trong năm 2018 thì châu Á là châu lục có diện tích trồng bưởi lớn nhất với 243.
Vùng có diện tích nhỏ nhất là châu là Úc và New Zealad với với 1. Về năng suất, châu Âu là châu lục có năng suất cao nhất với 282,764 tạ/ha, vùng có năng suất thấp nhất là Úc và New Zealand với năng suất 102,316 tạ/ha (2018). Châu Á là châu lục có sản lượng cao nhất với 6.