Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp kỹ thuật gây trồng loài nghiến burretiodendron hsienmu chun et how tại hai tỉnh sơn la và điện biên

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp kỹ thuật trồng loài nghiến burretiodendron hsienmu tại Sơn La và Điện Biên.

Chuyên ngành

Lâm sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

205
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.2. Đặc điểm lâm học loài Nghiến

1.3. Nghiên cứu nhân giống

1.4. Nghiên cứu trồng rừng

1.5. Nghiên cứu trồng rừng Nghiến và trồng rừng cây bản địa

1.6. Nhận xét và đánh giá chung

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Cách tiếp cận

2.2.2. Phương pháp kế thừa tài liệu

2.2.3. Điều tra ngoại nghiệp

2.3. Xử lý số liệu

2.4. Điều kiện tự nhiên nơi điều tra đặc điểm lâm học và bố trí thí nghiệm trồng rừng Nghiến

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm lâm học của loài Nghiến tại 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên

3.2. Đặc điểm hình thái, sinh thái, vật hậu và phân bố

3.3. Quy luật cấu trúc tầng cây cao rừng tự nhiên nơi có loài Nghiến phân bố

3.4. Đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên nơi có Nghiến phân bố

3.5. Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Nghiến

3.5.1. Kỹ thuật nhân giống Nghiến từ hạt

3.5.2. Kết quả nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Nghiến từ hom

3.6. Nghiên cứu kỹ thuật trồng Nghiến

3.6.1. Ảnh hưởng của tiêu chuẩn cây giống đến sinh trưởng của Nghiến

3.6.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của Nghiến

3.6.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ hỗn giao giữa Nghiến và Lát hoa đến sinh trưởng Nghiến

3.7. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn, phục hồi và phát triển Nghiến tại Sơn La và Điện Biên

3.7.1. Giải pháp điều chỉnh cấu trúc rừng

3.7.2. Giải pháp kỹ thuật nhân giống Nghiến

3.7.3. Giải pháp trồng rừng Nghiến

3.7.4. Giải pháp làm giàu rừng

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC, PHỤ BIỂU

Tóm tắt

I. Giới thiệu về loài Nghiến burretiodendron

Loài Nghiến (Burretiodendron hsienmu Chun et How) là một trong những loài cây gỗ quý hiếm, có giá trị kinh tế và sinh thái cao. Phân bố chủ yếu tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, đặc biệt là Sơn La và Điện Biên. Nghiến có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu núi đá vôi, với độ cao từ 700 đến 900m. Gỗ Nghiến có màu đỏ, nặng, rắn, không bị mối mọt, thường được sử dụng trong xây dựng và sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ. Tuy nhiên, do khai thác quá mức, số lượng Nghiến trong tự nhiên đang giảm mạnh, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng. Theo sách đỏ Việt Nam, Nghiến được xếp vào danh sách loài nguy cấp. Việc nghiên cứu và phát triển kỹ thuật trồng loài Nghiến là cần thiết để bảo tồn và phát triển nguồn gen quý này.

1.1 Đặc điểm sinh học của loài Nghiến

Nghiến là loài cây gỗ lớn, có thể cao trên 30m và đường kính lớn hơn 100cm. Cây có thân tròn thẳng, vỏ thân có màu xám, lá hình mác, mọc đối. Quả Nghiến có hình dạng đặc biệt, thường tự tách thành 5 cánh khi chín. Đặc điểm sinh thái của Nghiến cho thấy loài này ưa thích môi trường ẩm ướt, đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng. Nghiến có khả năng tái sinh tự nhiên tốt, tuy nhiên, sự can thiệp của con người và biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến khả năng này.

II. Kỹ thuật trồng và nhân giống Nghiến

Nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống và trồng Nghiến là một phần quan trọng trong việc bảo tồn loài này. Kỹ thuật nhân giống có thể thực hiện từ hạt hoặc hom. Việc nhân giống từ hạt cho thấy tỷ lệ nảy mầm cao khi được xử lý đúng cách. Kỹ thuật giâm hom cũng đã được thử nghiệm với nhiều loại thuốc kích thích khác nhau, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc tăng tỷ lệ ra rễ. Các thí nghiệm cho thấy, cây giống Nghiến cần được chăm sóc kỹ lưỡng trong giai đoạn đầu để đảm bảo tỷ lệ sống sót cao.

2.1 Kỹ thuật nhân giống từ hạt

Nhân giống từ hạt là phương pháp phổ biến và hiệu quả nhất. Hạt Nghiến cần được thu hoạch từ cây mẹ khỏe mạnh, sau đó được xử lý để tăng tỷ lệ nảy mầm. Các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ và ánh sáng đều ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm. Kết quả cho thấy, hạt Nghiến có tỷ lệ nảy mầm cao nhất khi được xử lý ở nhiệt độ từ 25 đến 30 độ C và độ ẩm khoảng 70%.

2.2 Kỹ thuật giâm hom

Giâm hom là phương pháp nhân giống nhanh chóng và hiệu quả. Hom Nghiến được cắt từ cây mẹ khỏe mạnh, sau đó được xử lý bằng các loại thuốc kích thích ra rễ. Kết quả cho thấy, hom được xử lý bằng IAA có tỷ lệ ra rễ cao hơn so với các loại thuốc khác. Thời gian theo dõi cho thấy, hom Nghiến có thể ra rễ trong vòng 30 tuần nếu được chăm sóc đúng cách.

III. Đánh giá sinh thái và bảo tồn Nghiến

Đánh giá sinh thái của loài Nghiến tại Sơn La và Điện Biên cho thấy, loài này đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng. Nghiến không chỉ cung cấp gỗ mà còn tạo môi trường sống cho nhiều loài động thực vật khác. Tuy nhiên, việc khai thác quá mức và biến đổi khí hậu đang đe dọa sự tồn tại của loài này. Các biện pháp bảo tồn cần được thực hiện ngay lập tức, bao gồm việc thiết lập các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt và khôi phục các khu rừng đã bị tàn phá.

3.1 Các biện pháp bảo tồn

Để bảo tồn loài Nghiến, cần thiết lập các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt, nơi mà việc khai thác gỗ bị cấm hoàn toàn. Đồng thời, cần thực hiện các chương trình giáo dục cộng đồng về giá trị của loài Nghiến và tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học. Việc khôi phục các khu rừng đã bị tàn phá cũng cần được chú trọng, thông qua việc trồng lại Nghiến và các loài cây bản địa khác.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Đặc điểm lâm học loài Nghiến 1.Đặc điểm phân bố tự nhiên, sinh lý, sinh thái của cây Nghiến Nghiến (Burretiodendron hsienmu Chun et How) thuộc họ Đay (Tiliaceae), theo tiếng Trung Quốc gọi là Xianmu (Wang Xianpu, jin Xiaobai, Sun Chengyong (1986) [82]). Ngoài ra, Nghiến còn được sử dụng với nhiều tên khoa học đồng nghĩa khác như: Burretiodendron tonkinense (Gagnep.; Burretiodendron tonkinensis Kosterm.; Excentrodendron hsienmu (Chun et How) Chang et Mian; Pentace tonkinensis A.; (danh sách thực vật trực tuyến TPL website: Theplantlist.

Nghiến được nghiên cứu và phát hiện đầu tiên vào năm 1956, tại Trung Quốc bởi Chun Woon-young và How Foon-chew, được lấy tên là Burretiodendron hsienmu Chun et How và tên này được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay (Chun Woon-young and How Foon-chew, 1956) [65]. Năm 1978, Nghiến tiếp tục được Chiang Hong Ta và Mian Ru Huai mô tả, đưa ra những điểm mà họ cho là có sự khác biệt so với những mô tả của Chun et How (1956) và yêu cầu thành lập một chi riêng (Chiang et Mian, 1978). Do đó, một tên khoa học đồng nghĩa đã được đưa ra là Excentrodendron hsienmu (Chun et How) Chang et Mian, tuy nhiên cho đến nay tên này vẫn không được sử dụng rộng rãi (Wang Xianpu, jin Xiaobai, Sun Chengyong, 1986) [82]. Nghiên cứu về phạm vi phân bố của loài Nghiến, Li và Wang (1964) [73] cho rằng: Tại Trung Quốc, Nghiến xuất hiện ở phía Tây Nam Khu tự trị Quảng Tây, mở rộng về phía Tây tới Tây Nam tỉnh Vân Nam, trong khoảng giữa vĩ độ 22°05' đến 24°16' vĩ độ Bắc và 105°00' đến 108°06' kinh độ Đông, ở phía Nam cận nhiệt đới và khu vực nhiệt đới phía Bắc.

(1998) [85] đã khẳng định Nghiến là loài có vùng phân bố hẹp, chỉ xuất hiện trong các khu rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi, kéo dài từ phía 6 luan an Nam Trung Quốc (Quảng Tây, Vân Nam) đến các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Theo Wang Xianpu, Jin Xiaobai, Sun Chengyong (1986) [82], Nghiến được coi là loài cây đặc hữu của các tỉnh vùng biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam, thuộc khu hệ thực vật Indo - Malaysia và là một loài cây có giá trị kinh tế quan trọng của Trung Quốc. Theo nghiên cứu của Li Shiying và cộng sự (1956) [72]; Hu Shunshi và cộng sự (1980) [67] Nghiến phát triển tốt trên núi đá vôi tinh khiết, thường trên các sườn dốc, trên đá trần hoặc trong đất nông. Ngược lại, nó không thể tồn tại trong các khu vực đồi núi, nơi bề mặt có nguồn gốc từ các loại đá có tính axit như sa thạch hoặc đá phiến sét, ngay cả khi độ dốc nhẹ và tầng đất sâu.

Ở phía Bắc khu vực nhiệt đới, những cây đại thụ của loài này thường chiếm lĩnh các tầng trên của rừng nhiệt đới trên núi đá vôi. Ở độ cao dưới 700m so với mực nước biển, Nghiến mọc rải rác và thường hỗn giao với các loài cây nhiệt đới như Garcinia paucinervis, Drypetes perreticulata, Drypetes confertiflora, Vluricoccum sinense và Walsura robusta. Ở nơi có độ cao từ 700 - 900m, Nghiến phân bố tập trung thành quần thể ưu thế, sinh trưởng khá tốt và hỗn giao với các loài cây cận nhiệt đới như Cinnamomum calcarea, Cryptocarya maclurei, Castanopsis hainanensis và Cyclobalanopsis glauca. Xa hơn về phía Bắc, Nghiến không phân bố liên tục thành những khu vực rừng lớn mà nằm rải rác kéo dài đến 24°16' vĩ độ Bắc.

Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của Nghiến, A. Kostermans (1961) [62] trong nghiên cứu về chi Burretiodendron đã mô tả đặc điểm hình thái 7 loài, trong đó có loài Nghiến. Nghiến là cây gỗ lớn, vỏ màu xám, dầy đến 1cm, bong mảng lớn. Hoa màu trắng, hoa đơn tính, quả nang hình elip, dài 5,5cm, rộng 3,5cm, nhẵn, hạt dài 1cm.

Wang Xianpu và cộng sự (1986) [82] trong báo cáo “Burretiodendron hsienmu Chun & How: Đặc điểm sinh thái học và bảo vệ loài” đã khẳng định: Nghiến là một loài cây gỗ lớn. Nghiến có thể cao tới 40 m, thân tròn, thẳng, gốc có bạnh vè. Cuống lá dài 3,5 - 6,5 cm, mặt lá màu xanh, hình cầu, hình trứng hoặc elip, kích thước (8-14) × (5-8) cm, nhẵn, bóng, khi già có màu vàng - nâu, nách gân lá có 7 luan an tuyến và có túm lông, có 3 gân gốc, đỉnh lá nhọn, đuôi lá hình tim. Trong tự nhiên, những cây Nghiến lâu năm thường có bạnh vè, đường kính ngang ngực có thể phát triển đạt 1 - 3 m, hệ rễ dày, nổi lên bề mặt đá vôi và có khả năng vươn rộng hơn đường kính tán lá.

Các chồi và lá non của Nghiến có nhựa dính, lá cây trưởng thành dày, cứng, đầu nhọn dần, phát triển cấu trúc xeromorphic (cấu trúc chịu hạn) giúp cho cây có khả năng thích nghi với môi trường sống khô, biên độ nhiệt biến động lớn trong năm. Tán lá dày, cành nhánh phát triển mở rộng thường xuyên, tạo thành một bức khảm giúp cho cây tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời. Cũng trong nghiên cứu này, Wang Xianpu và cộng sự (1986) [82] đã khẳng định: Ở Trung Quốc, Burretiodendron hsienmu có thể xuất hiện trong tự nhiên ở những nơi có nhiệt độ trung bình hàng năm từ 19,1oC đến 22,0oC, nhiệt độ của tháng lạnh nhất (tháng 1) là 10,9oC đến 13,9oC và nhiệt độ trong những tháng nóng nhất (tháng bảy) là 25,1 oC đến 28,4oC. Nhiệt độ tối thiểu tuyệt đối gặp phải trong năm từ -0,8 oC đến -1,9o C, nhiệt độ tích lũy hàng năm là 6.

Lượng mưa hàng năm cao, từ 1.500 mm nhưng phân bố không đều, 80% lượng mưa tập trung ở giai đoạn từ tháng tư đến tháng chín, còn lại chủ yếu là các tháng khô hạn. Trong mùa đông, lượng mưa chỉ chiếm 5 - 7% lượng mưa hàng năm, độ ẩm không khí tương đối trung bình 70%. Nghiên cứu cũng cho rằng với khí hậu 2 mùa mưa và khô rõ rệt chính là cơ sở hình thành các u bướu trên phần thân hoặc gốc cây nghiến. Nghiên cứu về vật hậu Theo nghiên cứu của Wang Xianpu, Jin Xiaobai, Sun Chengyong (1986) [82], Nghiến ra hoa vào tháng 3 - 4.

Quả nang, chín trong khoảng tháng 6 - 7, sau đó tách vỏ. Nghiến ra hoa và chín không đồng loạt. Hạt rơi xuống mặt đất hoặc nảy mầm nhanh chóng hoặc thối một cách nhanh chóng, vì vậy hạt giống phải được thu hái kịp thời khi vẫn còn ở trên cây. Chu kỳ sai quả thường là hai đến ba năm hoặc lâu hơn tùy điều kiện khí hậu.

Giá trị sử dụng và mức độ nguy cấp của Nghiến Các nghiên cứu đều cho thấy, gỗ Nghiến đa tác dụng và có giá trị kinh tế cao vì vậy chúng thường xuyên bị khai thác với cường độ mạnh và có nguy cơ bị biến 8 luan an mất trong tự nhiên. Theo Wang Xianpu và cộng sự (1986) [82], gỗ Nghiến chắc và nặng, có đặc tính cơ học tốt, rất thích hợp để sản xuất các dụng cụ lao động, thớt, đóng tàu, đồ nội thất và dùng trong xây dựng. Thân cây Nghiến to được dùng để làm bánh xe. Nghiến là một cây calciphilous (ưa vôi), chứa ít lưu huỳnh và mangan nhưng dồi dào canxi và nitơ (1,96%) trong lá, có thể được sử dụng để tăng khả năng cải tạo đất.

Tại các khu vực rừng có Nghiến phân bố tập trung, lá cây Nghiến rơi xuống mỗi năm được tích lũy trên mặt đất, tạo thành một lớp vật rơi rụng dày lên đến 15 cm. Đất bao gồm 5 - 10% chất hữu cơ, trong khi lớp đất phân hủy lá và cành cây có thể chứa nhiều hơn rất nhiều, lên tới 23,02% chất hữu cơ. Theo Wang Xianpu (1984) [83], Nghiến là một loài cây đang trong tình trạng bị tổn thương, khai thác kiệt ở mức báo động. Biện pháp thích hợp cần được tiến hành càng sớm càng tốt để bảo vệ và thúc đẩy tái sinh loài cây này, nếu không Nghiến sẽ có nguy cơ bị tuyệt chủng hoàn toàn trong tự nhiên.

Wang Xianpu và cộng sự (1986) [82] cũng khẳng định việc khai thác gỗ ở rừng tự nhiên ở Trung Quốc diễn ra mạnh, diện tích rừng bị suy giảm, điều kiện môi trường rừng thay đổi nhanh cũng là một trong những nguyên nhân làm cho loài Nghiến bị đe dọa do mất môi trường sống, ảnh hưởng đến lớp cây Nghiến tái sinh. Ở một số nơi, vẫn còn một số cây Nghiến lớn, phân bố rải rác nhưng rất ít cây con Nghiến và cây giống các loài khác bên dưới; một số nơi khác, có nhiều cây con Nghiến tái sinh và cây giống khác bên dưới nhưng lại không có tán của tầng cây cao phía trên bảo vệ. Vì vậy, với đặc tính ưa bóng giai đoạn nhỏ, rất khó khăn để lớp cây Nghiến tái sinh có thể phát triển vươn lên tầng trên của rừng và hình thành nên các quần thụ rừng Nghiến trưởng thành như trước đây. (1998) [85] trong sách đỏ của IUCN, Nghiến được xếp vào nhóm “sắp nguy cấp - VU” đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao trong tự nhiên.

Theo Ya Tang, Long-Hua Mao, Hui Gao (2005) [84] Nghiến đang phải chịu sự khai thác quá mức dẫn dến việc suy giảm nghiêm trọng số lượng cá thể loài tại Trung Quốc. Mặc dù, Nghiến là một loài được bảo vệ ở Trung Quốc nhưng ít ai biết về tình trạng hiện tại của nó. Cây Nghiến lớn được sử dụng để làm đồ thủ công mỹ 9 luan an nghệ và xây dựng quan trọng, cây non bị chặt làm củi; cả hai cách sử dụng này đều góp phần làm giảm số lượng cá thể loài. Mặc dù là một loài được bảo vệ nhưng có vẻ như không có biện pháp bảo vệ cụ thể chính thức nào được áp dụng.

Việc chặt cây bất hợp pháp vẫn tiếp tục và chặt cây non làm củi là phổ biến, đặc biệt là trong các khu rừng cách xa làng. Ở những khu vực gần làng hoặc khó tiếp cận, rừng Nghiến hầu hết được bảo vệ. Lệnh cấm chặt hạ cây và bán gỗ Nghiến, đóng cửa rừng Nghiến được áp dụng để giảm can thiệp từ con người sẽ giúp bảo vệ loài cây quan trọng này, nhưng người dân địa phương cần được cung cấp các lựa chọn thay thế tạo thu nhập và nhiên liệu để các biện pháp bảo vệ được chấp nhận và có cơ hội thành công. Như vậy, Nghiến có rất nhiều tên gọi đồng nghĩa khác nhau nhưng tên khoa học thông dụng là Burretiodendron hsienmu Chun et How.

Nghiến là loài cây gỗ lớn đa tác dụng có giá trị kinh tế và bị khai thác mạnh ngoài tự nhiên. Các nghiên cứu cũng cho thấy muốn thúc đẩy tái sinh Nghiến trong tự nhiên thì giai đoạn đầu của tái sinh cần phải giữ được tán của lớp cây tầng cao. Nghiên cứu nhân giống 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Bích Ngọc, mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về đặc điểm lâm học và biện pháp trồng loài nghiến burretiodendron tại Sơn La và Điện Biên", nghiên cứu sâu về đặc điểm sinh học và kỹ thuật trồng loài cây nghiến (Burretiodendron hsienmu) tại hai tỉnh Sơn La và Điện Biên. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về loài cây này mà còn đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả trồng trọt, từ đó góp phần bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về lâm học và các phương pháp trồng cây, giúp mở rộng kiến thức trong lĩnh vực này.

Để khám phá thêm về các khía cạnh liên quan đến lâm nghiệp và bảo vệ rừng, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Khám Phá Tri Thức Dân Gian Của Người Hà Nhì Đen Trong Bảo Vệ Rừng Tại Huyện Bát Xát, Lào Cai, nơi nghiên cứu về tri thức dân gian trong bảo vệ rừng, và Nghiên cứu sâu đục thân cói Bactra venosana và biện pháp phòng chống tại Thanh Hóa, Ninh Bình, cung cấp cái nhìn về các biện pháp quản lý và bảo vệ thực vật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến lâm nghiệp và bảo vệ môi trường.