Luận văn tốt nghiệp điều tra đánh giá tình hình sản xuất chè shan và tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên chè shan tại hà giang

Luận văn phân tích tình hình sản xuất chè shan và việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Hà Giang, cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngành chè.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

86
3
2

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu chung

1.3. Mục tiêu cụ thể

1.4. Ý nghĩa của đề tài

1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Nguồn gốc cây chè

2.3. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến việc phát triển chè

2.4.1. Điều kiện tự nhiên

2.4.1.1. Đất đai
2.4.1.2. Thời tiết khí hậu
2.4.1.3. Không khí

2.4.2. Yếu tố thuộc về kỹ thuật

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi điều tra

3.2. Đối tượng điều tra

3.3. Phạm vi điều tra

3.4. Thời gian điều tra

3.5. Địa điểm điều tra

3.6. Nội dung điều tra

3.7. Phương pháp điều tra

3.8. Phương pháp thu thập thông tin

3.9. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Hà Giang

4.1.1. Điều kiện tự nhiên

4.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội

4.2. Tình hình sản xuất chè tại Hà Giang

4.2.1. Khái quát chung về tình hình sản xuất chè của tỉnh Hà Giang

4.2.2. Chè Shan và tình hình sản xuất chè Shan của tỉnh Hà Giang

4.2.3. Tình hình sản xuất chè Shan ở 3 huyện tại Hà Giang

4.2.4. Diện tích, năng suất, sản lượng chè tại tỉnh Hà Giang

4.3. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên chè tại Hà Giang

4.3.1. Đánh giá chung về tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên chè ở 90 hộ điều tra phỏng vấn

4.3.2. Đánh giá chi tiết về tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên chè ở 90 hộ điều tra phỏng vấn

4.3.3. Đánh giá chi tiết về nồng độ thuốc và tình hình xử lý bao bì vỏ thuốc BVTV sau khi sử dụng

4.4. Các biện pháp kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại đối với cây chè

4.5. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất chè tại Hà Giang

4.5.1. Đánh giá chung

4.5.2. Cơ hội và thách thức đối với chè Hà Giang

4.5.2.1. Thách thức đối với chè Hà Giang
4.5.2.2. Cơ hội đối với chè Hà Giang

4.5.3. Một số giải pháp phát triển sản xuất chè tại tỉnh Hà Giang

4.5.4. Phương hướng phát triển sản xuất chè của tỉnh Hà Giang

4.5.5. Giải pháp phát triển chè của tỉnh Hà Giang trong những năm tới

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về chè Shan và sản xuất chè tại Hà Giang

Chè Shan, một loại chè đặc sản của Hà Giang, nổi bật với hương vị và chất lượng vượt trội. Tỉnh Hà Giang có điều kiện tự nhiên lý tưởng cho việc trồng chè, với độ cao và khí hậu phù hợp. Theo FAO (2020), Hà Giang đứng thứ hai cả nước về diện tích chè, với 20.810,30 ha. Tuy nhiên, sản xuất chè tại đây vẫn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là về năng suất và chất lượng. Việc phát triển sản xuất chè Shan không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân mà còn thúc đẩy kinh tế địa phương. Đánh giá tình hình sản xuất chè Shan tại Hà Giang là cần thiết để xác định những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển.

1.1. Tình hình sản xuất chè Shan tại Hà Giang

Sản xuất chè Shan tại Hà Giang đã có những bước phát triển đáng kể trong những năm qua. Tuy nhiên, năng suất chè vẫn còn thấp so với bình quân cả nước. Các yếu tố như mật độ trồng, chất lượng đất và quy trình chăm sóc chưa được cải thiện đáng kể. Việc áp dụng các kỹ thuật trồng chè hiện đại và bền vững là cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng chè Shan. Đặc biệt, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) cũng cần được quản lý chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho sản phẩm và môi trường.

II. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên chè Shan

Việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất chè Shan tại Hà Giang đang là một vấn đề đáng quan tâm. Nghiên cứu cho thấy, nhiều hộ nông dân vẫn sử dụng thuốc BVTV một cách không hợp lý, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Đánh giá tình hình sử dụng thuốc BVTV là cần thiết để đưa ra các biện pháp khắc phục. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và người dân trong việc tuyên truyền, hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV an toàn và hiệu quả.

2.1. Đánh giá tình hình sử dụng thuốc BVTV

Theo khảo sát, có một tỷ lệ lớn hộ nông dân sử dụng thuốc BVTV cho chè Shan. Tuy nhiên, việc lựa chọn loại thuốc và liều lượng sử dụng chưa được chú trọng. Nhiều hộ vẫn sử dụng thuốc BVTV không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng chè mà còn gây ra những tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng. Cần có các chương trình đào tạo và hướng dẫn cụ thể cho nông dân về cách sử dụng thuốc BVTV an toàn và hiệu quả.

III. Đề xuất giải pháp phát triển sản xuất chè Shan bền vững

Để nâng cao sản xuất chè Shan tại Hà Giang, cần có những giải pháp đồng bộ và bền vững. Việc áp dụng các kỹ thuật canh tác hiện đại, kết hợp với bảo vệ môi trường là rất quan trọng. Cần khuyến khích nông dân tham gia các khóa đào tạo về kỹ thuật trồng chè, sử dụng thuốc BVTV an toàn và hiệu quả. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương để phát triển sản xuất chè Shan, từ đó nâng cao thu nhập cho người dân và phát triển kinh tế địa phương.

3.1. Giải pháp kỹ thuật và chính sách hỗ trợ

Các giải pháp kỹ thuật như cải thiện quy trình chăm sóc, áp dụng công nghệ mới trong sản xuất chè là cần thiết. Bên cạnh đó, chính quyền cần có các chính sách hỗ trợ nông dân về giống, vốn và kỹ thuật. Việc xây dựng các mô hình sản xuất chè hữu cơ cũng cần được khuyến khích để nâng cao giá trị sản phẩm. Hợp tác giữa nông dân và các tổ chức, doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm chè cũng là một hướng đi hiệu quả để phát triển bền vững.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ lâu người ta đã biết đến chè với công dụng là một loại đồ uống có giá trị dinh dưỡng và giá trị dược liệu cao được nhân dân ta và nhân dân nhiều nước trên thế giới ưa chuộng. Sản phẩm chè rất đa dạng như chè xanh, chè đen, chè vàng, chè dược liệu,. Hà Giang có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho các loại cây thực vật quý hiếm (chè Shan tuyết, Thảo quả, Hà thủ ô,.) sinh trưởng và phát triển.

Theo FAO (2020), tổng diện tích chè của Việt Nam năm 2018 là 113. Trong đó, Thái Nguyên có diện tích chè lớn nhất (22.027 ha), chiếm 18,89% tổng diện tích chè của cả nước; tiếp đó là Hà Giang có diện tích chè lớn thứ hai (20.810,30 ha), chiếm 17,84% tổng diện tích chè của cả nước và Phú Thọ có diện tích chè lớn thứ ba (16.004,2 ha), chiếm 13,72% tổng diện tích chè cả nước. Tuy nhiên, giống chè của ba vùng chè lớn nhất Việt Nam không hoàn toàn giống nhau: + Giống chè ở Thái Nguyên: Giống chè LDP1 chiếm 70,2%; Kim Tuyên, Thúy Ngọc 12,1%; Phúc Vân Tiên 9%; giống TRI777 7%; các giống chè mới khác 1,7%. Các giống chè LDP1 và các giống chè nhập nội như Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên có năng suất, chất lượng cao để làm nguyên liệu chế biến chè xanh cao cấp (Theo ông Hoàng Văn Dũng, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, 2018).

+ Giống chè ở Phú Thọ: Cơ cấu giống khá đa dạng nhằm xây dựng vùng nguyên liệu ổn định bền vững cho việc chế biến chè đen và chè xanh cao cấp: Các giống chè mới (LPD1, LPD2, PH11, Phúc Vân tiên, Bát tiên, Kim tuyên) chiếm trên 75,3%; còn lại là các giống Trung du. Luan van 2 + Giống chè ở Hà Giang: Trên 90% chè Shan tuyết và dưới 10% là chè Trung du (Thanh Thủy, 2019). Qua đó ta thấy, các giống chè Thái Nguyên và Phú Thọ gần giống nhau; chè Shan tuyết Hà Giang là loại đặc biệt chè chỉ trồng được ở vùng núi có độ cao > 600 m, độ dốc 15 – 25 độ. Hà Giang có diện tích chè Shan tuyết lớn nhất cả nước và đây cũng là cây công nghiệp mũi nhọn đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh nên những năm qua, người dân trồng chè ở Hà Giang đã nhận được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống, vốn, khoa học kỹ thuật để phát triển cây chè.

Diện tích chè đã không ngừng được mở rộng, đầu tư thâm canh để tăng năng suất và sản lượng. Chè Shan Hà Giang có nhiều ưu điểm vượt trội (về điều kiện trồng trọt, phương thức canh tác) có thể cạnh tranh được với các vùng chè truyền thống khác trong và ngoài nước: 70% diện tích là giống chè Shan tuyết Hà Giang được trồng, phát triển trên núi cao, quanh năm mây mù bao phủ, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn. Mặt khác, tập quán kỹ thuật canh tác chè đơn giản, thường ít sử dụng bón phân và thuốc bảo vệ thực vật đã tạo nên vùng chè nguyên liệu sạch và an toàn. Đây cũng chính là cơ sở để hướng tới phát triển chè Shan hữu cơ nhằm tăng giá trị của chè Hà Giang.

Tuy nhiên, năng suất chè của tỉnh Hà Giang còn rất thấp so với bình quân cả nước do nương chè có mật độ thấp,đất chè thiếu dinh dưỡng và một số khâu trong quy trình chăm sóc và chế biến chưa được cải tiến. Để khắc phục hạn chế này nhằm nâng cao năng suất, chất lượng chè Hà Giang tăng thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân địa phương, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra đánh giá tình hình sản xuất chè Shan và tình hình sử dụng thuốc BVTV trên chè shan tại Hà Giang”. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng sản xuất chè Shan và tình hình sử dụng thuốc BVTV trên chè tại tỉnh Hà Giang để xác định những thuận lợi, khó khăn Luan van 3 từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất chè trong những năm tới nhằm đưa chè Shan thực sự trở thành cây trồng có thế mạnh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo ổn định, bền vững của tỉnh Hà Giang. Mục tiêu cụ thể - Điều tra, đánh giá được tình hình sản xuất chè tại Hà Giang.

- Điều tra, đánh giá được thành phần, diễn biến của sâu hại chè shan. - Điều tra, đánh giá được tình hình sử dụng thuốc BVTV trên chè shan tại Hà Giang. Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học * Ý nghĩa trong học tập: Qua thực tiễn giúp sinh viên có điều kiện củng cố và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, nghiên cứu, mặt khác thông qua thời gian thực tập sinh viên đã có điều kiện học hỏi, tích lũy thêm kinh nghiệm làm vốn kiến thức cá nhân, cũng như biện pháp tiến hành khóa luận. * Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: Giúp sinh viên tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, đồng thời tạo cho mình có tác phong làm việc đúng đắn, nghiêm túc, sáng tạo, học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu cho bản thân mà trong sách vở không có được.

Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Kết quả điều tra tình hình sản xuất chè và tình hình sử dụng thuốc BVTV trên chè tại Hà Giang, làm cơ sở để xây dựng biện pháp kỹ thuật thâm canh chè bền vững đạt năng suất cao, chất lượng tốt tại Hà Giang. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Nguồn gốc cây chè Chè là loại cây có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất.

Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis, thuộc họ Theacae Cây chè sau trồng 5 năm bắt đầu cho thu hoạch và thời gian thu hoạch trong vòng 25 năm. Nguồn gốc cây chè được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm từ rất sớm. Tuy nhiên, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những cơ sở về lịch sử, khảo cổ học và thực vật học. Một số quan điểm được nhiều người công nhận nhất là: Theo Carl Von Linnaeus – 1753, nhà thực vật học người Thụy Điển, lần đầu tiên trên thế giới đã xác nhận Trung Quốc là vùng nguyên sản của cây chè thế giới và định tên khoa học là Thea Sinensis rồi phân thành 2 loại: Thea bohea (chè đen) và Thea viridis (chè xanh).

Nhiều công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng: Nguồn gốc của cây chè là vùng cao nguyên Vân Nam – Trung Quốc, nơi có khí hậu ẩm ướt và ấm. Theo các tài liệu của Trung Quốc thì cách đây khoảng 4000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng chè làm dược liệu và sau đó mới dùng để uống. Cũng theo các tài liệu này thì vùng biên giới Tây Bắc nước ta cũng nằm trong vùng nguyên sản của giống cây chè tự nhiên trên thế giới. Năm 1823, Robert Bruce, một học giả người Anh,lần đầu tiên phát hiện một số cây chè hoang dã trong dãy núi Sadiya ở vùng Atxam (Ấn Độ) cao tới 17 đến 20m, thuộc loài thân gỗ lớn, khác hẳn cây chè thân bụi của Linaeus thu thập ở vùng Trung Quốc nói trên.

Tiếp sau đó các nhà học giả Anh như Samuel Bildon (1878), John H.Brown và Ibbetson (1912) đưa ra thuyết: Ấn Độ là vùng nguyên sản của cây chè trên thế giới, vì trong kho tàng cổ thụ Trung Quốc Luan van 5 không có ghi nhận gì về các cây chè cổ thụ, trong đất nước Trung Quốc chưa tìm thấy những cây chè cổ thụ lớn như ở Ấn Độ, và giống chè Trung Quốc cũng như Nhật Bản hiện nay là nhập từ Ấn Độ. Năm 1918, Cohen Stuart (Java), một nhà phân loại thực vật Hà Lan đã đi thu thập mẫu tiêu bản chè tại Vân Nam, Bắc Việt Nam và Bắc Mianma. Kết quả đã tìm thấy những cây chè thân gỗ lớn ở khu vực miền núi phía Nam và phía Tây Vân Nam. Tuy có những quan điểm khác nhau về nguồn gốc cây chè, nhưng vùng phân bố chè nguyên sản và vùng chè dại nằm đều nằm ở khu vực núi cao, có điều kiện sinh thái lý tưởng như vùng Vân Nam (Trung Quốc) hay vùng Atxam (Ấn Độ) đều có độ cao trên 1500m so với mặt nước biển.

Còn tại Việt Nam cũng đã tìm thấy chè dại tại Suối Giàng (Yên Bái), Thông Nguyên, Cao Bồ (Hà Giang), Tam Đảo (Vĩnh Phúc). Từ những nghiên cứu trên có thể đi đến kết luận là cây chè có nguồn gốc từ Châu Á. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè Cây chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Nó là một loại cây trồng có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như phát triển kinh tế và văn hoá con người, sản xuất chè tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu giải khát của đông đảo nhân dân ở nhiều quốc gia.

Chè có nhiều Vitamin giúp thanh lọc cơ thể, giải khát, có tác dụng giảm thiểu một số bệnh thường gặp về máu, do đó chè đã trở thành đồ uống phổ thông trên thế giới. Tại một số nước thói quen uống nước chè đã tạo thành một nền văn hóa truyền thống, một tập quán. Hiện nay khoa học tiến bộ đã đi sâu vào nghiên cứu tìm ra được một số hoạt chất quý có trong cây chè như: Cafein, Vitamin A, B1. Đặc biệt trong cây chè còn chứa Vitamin C là loại Vitamin dùng để điều chế thuốc tân dược vì thế chè không những là loại cây giải khát mà chè còn có tên trong danh sách cây y dược.

Luan van 6 Đối với nước ta, sản phẩm chè không chỉ thoả mãn nhu cầu trong nước, mà còn là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn, giúp nuớc ta có thêm một nguồn ngân sách để đầu tư vào phát triển kinh tế của đất nước, cải thiện nâng cao mức sống của nguời dân. Xét ở tầm vĩ mô thì xuất khẩu chè cũng như xuất khẩu các mặt hàng khác nó là cơ sở để đẩy mạnh lưu thông buôn bán giữa các nuớc trong khu vực và trên thế giới, góp phần tạo sự cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong tổng thể nền kinh tế, đồng thời nó tạo nên mối quan hệ bình đẳng, thân thiện, cùng có lợi giữa các nuớc xuất khẩu, nhập khẩu trên thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn tốt nghiệp: Đánh giá tình hình sản xuất chè shan và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Hà Giang" của tác giả Vì Thị Hồng, dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Lan Anh, thuộc trường Đại học Thái Nguyên, đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình sản xuất chè shan tại Hà Giang, cũng như việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong ngành nông nghiệp. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất chè mà còn nêu bật những thách thức và cơ hội trong việc bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và bảo vệ thực vật, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Giải pháp tiếp tục xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu tại thị xã Đông Triều, Quảng Ninh, nơi đề cập đến các giải pháp phát triển nông thôn bền vững, hay Luận văn thạc sĩ về pháp luật môi trường trong hoạt động nông nghiệp ở Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về khung pháp lý liên quan đến nông nghiệp. Cuối cùng, Nghiên cứu biện pháp bón phân cho cà phê vối trên đất bazan tại Đắk Lắk cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp thông tin về kỹ thuật canh tác và quản lý đất đai trong sản xuất nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nông nghiệp và bảo vệ thực vật tại Việt Nam.