MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ lâu người ta đã biết đến chè với công dụng là một loại đồ uống có giá trị dinh dưỡng và giá trị dược liệu cao được nhân dân ta và nhân dân nhiều nước trên thế giới ưa chuộng. Sản phẩm chè rất đa dạng như chè xanh, chè đen, chè vàng, chè dược liệu,. Hà Giang có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho các loại cây thực vật quý hiếm (chè Shan tuyết, Thảo quả, Hà thủ ô,.) sinh trưởng và phát triển.
Theo FAO (2020), tổng diện tích chè của Việt Nam năm 2018 là 113. Trong đó, Thái Nguyên có diện tích chè lớn nhất (22.027 ha), chiếm 18,89% tổng diện tích chè của cả nước; tiếp đó là Hà Giang có diện tích chè lớn thứ hai (20.810,30 ha), chiếm 17,84% tổng diện tích chè của cả nước và Phú Thọ có diện tích chè lớn thứ ba (16.004,2 ha), chiếm 13,72% tổng diện tích chè cả nước. Tuy nhiên, giống chè của ba vùng chè lớn nhất Việt Nam không hoàn toàn giống nhau: + Giống chè ở Thái Nguyên: Giống chè LDP1 chiếm 70,2%; Kim Tuyên, Thúy Ngọc 12,1%; Phúc Vân Tiên 9%; giống TRI777 7%; các giống chè mới khác 1,7%. Các giống chè LDP1 và các giống chè nhập nội như Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên có năng suất, chất lượng cao để làm nguyên liệu chế biến chè xanh cao cấp (Theo ông Hoàng Văn Dũng, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, 2018).
+ Giống chè ở Phú Thọ: Cơ cấu giống khá đa dạng nhằm xây dựng vùng nguyên liệu ổn định bền vững cho việc chế biến chè đen và chè xanh cao cấp: Các giống chè mới (LPD1, LPD2, PH11, Phúc Vân tiên, Bát tiên, Kim tuyên) chiếm trên 75,3%; còn lại là các giống Trung du. Luan van 2 + Giống chè ở Hà Giang: Trên 90% chè Shan tuyết và dưới 10% là chè Trung du (Thanh Thủy, 2019). Qua đó ta thấy, các giống chè Thái Nguyên và Phú Thọ gần giống nhau; chè Shan tuyết Hà Giang là loại đặc biệt chè chỉ trồng được ở vùng núi có độ cao > 600 m, độ dốc 15 – 25 độ. Hà Giang có diện tích chè Shan tuyết lớn nhất cả nước và đây cũng là cây công nghiệp mũi nhọn đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh nên những năm qua, người dân trồng chè ở Hà Giang đã nhận được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống, vốn, khoa học kỹ thuật để phát triển cây chè.
Diện tích chè đã không ngừng được mở rộng, đầu tư thâm canh để tăng năng suất và sản lượng. Chè Shan Hà Giang có nhiều ưu điểm vượt trội (về điều kiện trồng trọt, phương thức canh tác) có thể cạnh tranh được với các vùng chè truyền thống khác trong và ngoài nước: 70% diện tích là giống chè Shan tuyết Hà Giang được trồng, phát triển trên núi cao, quanh năm mây mù bao phủ, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn. Mặt khác, tập quán kỹ thuật canh tác chè đơn giản, thường ít sử dụng bón phân và thuốc bảo vệ thực vật đã tạo nên vùng chè nguyên liệu sạch và an toàn. Đây cũng chính là cơ sở để hướng tới phát triển chè Shan hữu cơ nhằm tăng giá trị của chè Hà Giang.
Tuy nhiên, năng suất chè của tỉnh Hà Giang còn rất thấp so với bình quân cả nước do nương chè có mật độ thấp,đất chè thiếu dinh dưỡng và một số khâu trong quy trình chăm sóc và chế biến chưa được cải tiến. Để khắc phục hạn chế này nhằm nâng cao năng suất, chất lượng chè Hà Giang tăng thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân địa phương, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra đánh giá tình hình sản xuất chè Shan và tình hình sử dụng thuốc BVTV trên chè shan tại Hà Giang”. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng sản xuất chè Shan và tình hình sử dụng thuốc BVTV trên chè tại tỉnh Hà Giang để xác định những thuận lợi, khó khăn Luan van 3 từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất chè trong những năm tới nhằm đưa chè Shan thực sự trở thành cây trồng có thế mạnh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo ổn định, bền vững của tỉnh Hà Giang. Mục tiêu cụ thể - Điều tra, đánh giá được tình hình sản xuất chè tại Hà Giang.
- Điều tra, đánh giá được thành phần, diễn biến của sâu hại chè shan. - Điều tra, đánh giá được tình hình sử dụng thuốc BVTV trên chè shan tại Hà Giang. Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học * Ý nghĩa trong học tập: Qua thực tiễn giúp sinh viên có điều kiện củng cố và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, nghiên cứu, mặt khác thông qua thời gian thực tập sinh viên đã có điều kiện học hỏi, tích lũy thêm kinh nghiệm làm vốn kiến thức cá nhân, cũng như biện pháp tiến hành khóa luận. * Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: Giúp sinh viên tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, đồng thời tạo cho mình có tác phong làm việc đúng đắn, nghiêm túc, sáng tạo, học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu cho bản thân mà trong sách vở không có được.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Kết quả điều tra tình hình sản xuất chè và tình hình sử dụng thuốc BVTV trên chè tại Hà Giang, làm cơ sở để xây dựng biện pháp kỹ thuật thâm canh chè bền vững đạt năng suất cao, chất lượng tốt tại Hà Giang. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Nguồn gốc cây chè Chè là loại cây có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất.
Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis, thuộc họ Theacae Cây chè sau trồng 5 năm bắt đầu cho thu hoạch và thời gian thu hoạch trong vòng 25 năm. Nguồn gốc cây chè được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm từ rất sớm. Tuy nhiên, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những cơ sở về lịch sử, khảo cổ học và thực vật học. Một số quan điểm được nhiều người công nhận nhất là: Theo Carl Von Linnaeus – 1753, nhà thực vật học người Thụy Điển, lần đầu tiên trên thế giới đã xác nhận Trung Quốc là vùng nguyên sản của cây chè thế giới và định tên khoa học là Thea Sinensis rồi phân thành 2 loại: Thea bohea (chè đen) và Thea viridis (chè xanh).
Nhiều công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng: Nguồn gốc của cây chè là vùng cao nguyên Vân Nam – Trung Quốc, nơi có khí hậu ẩm ướt và ấm. Theo các tài liệu của Trung Quốc thì cách đây khoảng 4000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng chè làm dược liệu và sau đó mới dùng để uống. Cũng theo các tài liệu này thì vùng biên giới Tây Bắc nước ta cũng nằm trong vùng nguyên sản của giống cây chè tự nhiên trên thế giới. Năm 1823, Robert Bruce, một học giả người Anh,lần đầu tiên phát hiện một số cây chè hoang dã trong dãy núi Sadiya ở vùng Atxam (Ấn Độ) cao tới 17 đến 20m, thuộc loài thân gỗ lớn, khác hẳn cây chè thân bụi của Linaeus thu thập ở vùng Trung Quốc nói trên.
Tiếp sau đó các nhà học giả Anh như Samuel Bildon (1878), John H.Brown và Ibbetson (1912) đưa ra thuyết: Ấn Độ là vùng nguyên sản của cây chè trên thế giới, vì trong kho tàng cổ thụ Trung Quốc Luan van 5 không có ghi nhận gì về các cây chè cổ thụ, trong đất nước Trung Quốc chưa tìm thấy những cây chè cổ thụ lớn như ở Ấn Độ, và giống chè Trung Quốc cũng như Nhật Bản hiện nay là nhập từ Ấn Độ. Năm 1918, Cohen Stuart (Java), một nhà phân loại thực vật Hà Lan đã đi thu thập mẫu tiêu bản chè tại Vân Nam, Bắc Việt Nam và Bắc Mianma. Kết quả đã tìm thấy những cây chè thân gỗ lớn ở khu vực miền núi phía Nam và phía Tây Vân Nam. Tuy có những quan điểm khác nhau về nguồn gốc cây chè, nhưng vùng phân bố chè nguyên sản và vùng chè dại nằm đều nằm ở khu vực núi cao, có điều kiện sinh thái lý tưởng như vùng Vân Nam (Trung Quốc) hay vùng Atxam (Ấn Độ) đều có độ cao trên 1500m so với mặt nước biển.
Còn tại Việt Nam cũng đã tìm thấy chè dại tại Suối Giàng (Yên Bái), Thông Nguyên, Cao Bồ (Hà Giang), Tam Đảo (Vĩnh Phúc). Từ những nghiên cứu trên có thể đi đến kết luận là cây chè có nguồn gốc từ Châu Á. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè Cây chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Nó là một loại cây trồng có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như phát triển kinh tế và văn hoá con người, sản xuất chè tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu giải khát của đông đảo nhân dân ở nhiều quốc gia.
Chè có nhiều Vitamin giúp thanh lọc cơ thể, giải khát, có tác dụng giảm thiểu một số bệnh thường gặp về máu, do đó chè đã trở thành đồ uống phổ thông trên thế giới. Tại một số nước thói quen uống nước chè đã tạo thành một nền văn hóa truyền thống, một tập quán. Hiện nay khoa học tiến bộ đã đi sâu vào nghiên cứu tìm ra được một số hoạt chất quý có trong cây chè như: Cafein, Vitamin A, B1. Đặc biệt trong cây chè còn chứa Vitamin C là loại Vitamin dùng để điều chế thuốc tân dược vì thế chè không những là loại cây giải khát mà chè còn có tên trong danh sách cây y dược.
Luan van 6 Đối với nước ta, sản phẩm chè không chỉ thoả mãn nhu cầu trong nước, mà còn là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn, giúp nuớc ta có thêm một nguồn ngân sách để đầu tư vào phát triển kinh tế của đất nước, cải thiện nâng cao mức sống của nguời dân. Xét ở tầm vĩ mô thì xuất khẩu chè cũng như xuất khẩu các mặt hàng khác nó là cơ sở để đẩy mạnh lưu thông buôn bán giữa các nuớc trong khu vực và trên thế giới, góp phần tạo sự cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong tổng thể nền kinh tế, đồng thời nó tạo nên mối quan hệ bình đẳng, thân thiện, cùng có lợi giữa các nuớc xuất khẩu, nhập khẩu trên thế giới.