chương 1: Dứa là một loại cây trồng có khả năng chịu hạn rất cao, dễ trồng và không kén đất. Tuy nhiên, cây dứa nhạy cảm với sự thiếu nước, đặc biệt trong thời gian sinh trưởng sinh dưỡng, khi kích thước và đặc điểm quả được xác định. Sự thiếu nước làm chậm lại sự phát triển, ra hoa và kết trái. Do đó vai trò của công tác tưới với vùng nguyên liệu dứa là rất quan trọng.
Chính vì vậy, cần thiết phải đầu tư, phát triển khai thác tốt hệ thống công trình thủy 16 lợi trong vùng dự án, tăng cường các phương pháp, kỹ thuật tưới theo chiều sâu để nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua việc tăng hiệu quả sử dụng nước, tăng năng suất dứa trong khu vực. Có nhiều nhóm chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống tưới nước. Đứng dưới góc độ đánh giá dự án xuất phát từ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và xã hội, để đánh giá hiệu quả công tác tưới có các nhóm chỉ tiêu đánh giá như hệ chỉ tiêu hiệu quả năng suất, sản lượng cây trồng được tưới, nhóm chỉ tiêu tĩnh, nhóm chỉ tiêu động trường hợp thị trường vốn hoàn hảo, nhóm chỉ tiêu động trường hợp thị trường vốn không hoàn hảo, chỉ tiêu chi phí kinh tế tối thiểu và phân tích rủi ro của dự án. Trong luận văn sẽ trình bày tính toán đánh giá hiện trạng và hiệu quả tưới qua các chỉ tiêu về hiệu quả sản lượng, năng suất; nhóm chỉ tiêu tĩnh; hệ chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của tưới nước theo tiêu chuẩn Việt Nam về tính toán và đánh giá hiệu quả kinh tế dự án phục vụ tưới tiêu TCVN 8213:2009.
17 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TƯỚI VÙNG NGUYÊN LIỆU DỨA ĐỒNG DAO, THỊ XÃ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH 2. Giới thiệu về công tác tưới vùng nguyên liệu dứa Đồng Giao, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình 2. Điều kiện tự nhiên, xã hội 1. Địa lý, địa hình và địa mạo - Vị trí địa lý Nông trường Đồng Giao được thành lập vào ngày 26 tháng 12 năm 1945, hiện nay tên của nông trường là “ Công ty thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao “ Nông trường thuộc địa phận thị xã Tam Điệp nằm ở phía Tây Nam tỉnh Ninh Bình, nằm trên trục đường quốc lộ 1A, cách thủ đô Hà Nội 105 km về phía Nam, cách Ninh Bình 12 km, nằm trong khoảng 20010’00” vĩ độ Bắc, 105051’21” kinh độ Đông.
Phía Nam giáp thị xã Bỉm Sơn Thanh Hóa, Bắc giáp xã Yên Sơn Tam Điệp – Ninh Bình, Tây giáp xã Bỉm Sơn, phía đông giáp xã Đông Sơn. - Địa hình và địa mạo Nông trường Đồng Giao thuộc vùng bán sơn địa, địa hình phức tạp nhiều đồi núi, núi đá xen kẽ thung lũng tạo thành các khu cao thấp khác nhau với độ cao dao động từ +45 đến +53. Đặc điểm địa hình địa mạo của khu vực nghiên cứu về cơ bản như sau : + Ở phía Tây và trung tâm nông trường Đồng Giao là khu thung lũng có cao độ từ +50 đến +70. + Phía Bắc thung lũng là các dải đồi thấp có cao độ từ +90 đến +100 xen kẽ là các đồi cao từ +110 đến +160, địa hình dốc về phía Bắc lấy trục của nông trường là đường phân thủy.
+ Phía Nam của thung lũng là các dãy núi đá vôi kéo dài có cao độ từ +120 đến +190, xen kẹp ở giữa là các bãi bồi tích có cao độ từ +50 đến +60. + Phía Đông của thung lũng là khu dân cư có cao độ từ +50 đến +60 Hướng dốc chính của khu vực là từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc trung bình của địa hình từ 70 đến 110. 18 Hình 1: Bản đồ có thể hiện vùng dự án (Nguồn:Website điện tử http://websitedulich.com/kinh-nghiem-du-lich-ninh-binh) 2. Địa chất thủy văn +Vùng dự án có nước ngầm phong phú, theo báo cáo về công tác khảo sát nước ngầm khu Đồng Giao năm 1971-1976 của Văn phòng ủy ban sông Hồng.
Các số liệu đo nước ngầm tại các giếng có ký hiệu trên bản đồ địa chất thủy văn. + T 2adg có khả năng chứa nước q tb = 6 l/s/m + T 1 TT 1 là tầng chứa nước có tuổi Triát phụ diệp thạch dưới T 1 TT 1 đá chứa nước là đá vôi nứt nẻ karst. Khả năng chứa nước q tb =2,3 l/s/m. + Mực nước ngầm dao động giữa mùa mưa và khô không lớn chỉ vào khoảng từ 2-3 m.
Khí tượng, thủy văn công trình, sông ngòi - Các yếu tố khí tượng Theo số liệu của trạm khí tượng Ninh Bình nằm cách trung tâm khu vực nghiên cứu 12 km có tài liệu quan trắc liên tục từ năm 1979 đến năm 2006 (28 19 năm), một số đặc trưng khí tượng cơ bản của vùng nghiên cứu được biểu thị như sau : Nhiệt độ Bảng 2. 1: Nhiệt độ trung bình tháng nhiều năm Đơn vị : 0C Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB T tb 17,3 10,7 19,9 23,8 27,0 29,0 29,3 28,5 27,3 24,9 21,8 18,3 23,2 Nhiệt độ không khí trung bình tháng dao động từ 17,3 0C đến 29,3 0C. Nhiệt độ cao nhất xuất hiện vào tháng VII và thấp nhất vào tháng II. Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23,2 0C.
Mưa Theo tài liệu quan trắc trong 28 năm của trạm khí tượng thủy văn Ninh Bình, tổng lượng mưa trung bình nhiều năm dao động từ 1110 mm đến 2301 mm, khu vực nghiên cứu có lượng mưa trung bình năm là 1730,5 mm. Lượng mưa trong năm phân bố không đều. Mùa mưa kéo dài 6 tháng từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, lượng mưa mùa khô chỉ chiếm 10% đến 20% lượng mưa năm.
Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9, chiếm 19,5 % lượng mưa cả năm. Tháng có lượng mưa nhỏ nhất vào tháng 2 chỉ chiếm 0,99% lượng mưa năm. 2: Phân bố lượng mưa tháng trung bình nhiều năm Đơn vị : mm Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm X tb 20,2 17,2 49,5 60,3 161,2 201,3 227,2 324,4 337,8 252,9 54,3 24,4 1.730,5 Số giờ nắng 20 Bảng 2. 3: Tổng số giờ nắng trung bình tháng nhiều năm Đơn vị : giờ Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB S 2,2 1,5 1,5 3,1 5,7 6,0 5,9 5,2 5,6 4,9 4,4 3,8 4,2 Theo thống kê của trạm khí tượng Ninh Bình, tổng số giờ nắng trung bình năm là 1246,4 giờ.
Tháng có số giờ nắng lớn nhất là tháng 6. Tháng có số giờ nắng thấp xuất hiện vào tháng 2 và tháng 3 trong năm. Độ ẩm không khí Bảng 2. 4: Độ ẩm không khí trung bình nhiều năm Đơn vị : % Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB W 85,4 88,4 89,7 89,5 86 82,3 82,1 85,9 85,4 82,8 80,2 80,1 84,9 Độ ẩm không khí giữa các tháng trong năm ít biến đổi.
Độ ẩm trung bình tháng cao nhất vào tháng 3 là 89,7% do có mưa phùn, trời nhiều mây, thấp nhất vào tháng 12 là 80,1% do có thời tiết khô hanh, ít mưa, độ ẩm tương đối trung bình năm là 84,9%. 5: Lượng bốc hơi tháng trung bình nhiều năm Đơn vị : mm Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Z tb 44,6 35,1 33,6 43,2 64,3 82,9 84,3 61,5 61,8 67,9 70,0 60,7 709,9 Kết quả ở bảng 2.5 cho thấy, lượng bốc hơi tháng lớn nhất vào tháng 7 là 84,3 mm, đây là tháng nắng nóng, nhiệt độ cao, bốc hơi lớn. Tháng 3, lượng bốc hơi là nhỏ nhất 33,6 mm. Tháng này có độ ẩm không khí cao, mưa phùn, nhiều mây.
Chênh lệch bốc hơi giữa tháng lớn nhất và tháng nhỏ nhất là 2,51 lần. Lượng bốc hơi bình quân năm trong khu vực nghiên cứu là 709,9 mm. 21 Gió Theo tài liệu quan trắc tại trạm khí tượng Ninh Bình, tốc độ gió trung bình nhiều năm ở độ cao 2m được nêu ở bảng 2. 6: Tốc độ gió trung bình nhiều năm Đơn vị : m/s Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB V 2m 3 3,2 3,3 3,5 3,6 4,0 4,0 3,8 3,6 3,8 3,8 3,4 3,6 Vùng nghiên cứu nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 hướng gió chính theo mùa, mùa mưa có gió mùa Tây Nam và Nam.
Mùa khô có gió mùa Đông Bắc. Tốc độ gió trung bình của vùng nghiên cứu là 3,6 m/s, khi có bão tốc độ gió lớn nhất đạt tới 45m/s. - Đặc điểm thủy văn công trình Theo báo cáo tổng kết về công tác khảo sát nghiên cứu nguồn nước mặt và nước ngầm vùng Đồng Giao của Văn Phòng Ủy ban sông Hồng (Viện quy hoạch thủy lợi), những đặc trưng cơ bản của nguồn nước vùng nghiên cứu như sau: a-Nguồn nước mặt Kết quả điều tra, khảo sát nguồn nước mặt của khu vực nghiên cứu cho thấy do sự phân bố không đều lượng mưa năm trong mùa mưa và mùa khô, sự phân bố dòng chảy không đều trong năm, nguồn nước mặt thường dồi dào trong các tháng mùa mưa, thậm chí gây úng ngập cục bộ ở một số diện tích canh tác của nông trường. Tuy nhiên ngay khi bước vào mùa khô lượng nước mặt giảm sút nhanh chóng và dẫn đến tình trạng cạn kiệt, hiện tượng này có thể được giải thích do lượng mưa trong mùa khô là rất ít, dòng chảy cơ bản của các suối nhỏ không có, do điều kiện địa chất thủy văn của khu vực có hiện tượng caster nên các hồ chứa cũng nhanh chóng bị khô cạn.
Trong khu vực chỉ còn 3 hồ chứa có khả năng cung cấp nước tưới cho khu vực được trình bày ở bảng 2. 7: Đặc trưng cơ bản của nguồn nước mặt vùng Đồng Giao Bãi Sải Trại Vòng Núi Vá Diện tích nước mặt (ha) 4,2 12 3 Dung tích (103 m3) 350 – 840 40 90 Độ sâu trung bình (m) 15 2 3 (Nguồn: Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật, Đề tài: “Nghiên cứu chế độ tưới, giữ ẩm cho dứa vùng đồi bắc trung bộ nhằm nâng cao chất lượng thương phẩm xuất khẩu”, 2008) Trữ lượng sơ bộ của nước mặt của 3 hồ chứa có thể cung cấp đủ lượng nước tưới cho phần diện tích trồng dứa của nông trường. Tuy nhiên do đặc điểm về địa hình xung quanh các hồ chứa có địa hình dốc và xa, khả năng cung cấp nước tưới gặp nhiều khó khăn và hạn chế. Các hồ chứa nước trong khu vực hiện nay đều ở dạng tiềm năng, khả năng đầu tư khai thác còn hạn chế, lòng hồ bị bồi lấp nhiều, độ sâu trước đây là 30 m nay chỉ còn từ 10 – 20 m.