CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE PHÁT TRIEN NÔNG NGHIỆP THEO HUONG BEN VỮNG Ở TINH HAI DƯƠNG 1.1 Co sở lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững 1.1 Khái niệm về nông nghiệp, phát triển nông nghiệp và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững 1.1 Khái niệm về nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế quốc dân, được hình thành do phân công lao động xã hội và là một trong những ngành kinh tế quan trọng, phức tạp. Theo từ điển Bách khoa toàn thư: “Nông nghiệp ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội; sử dụng đất đai dé trồng trọt, chăn nuôi; khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản” Giáo trình Kinh tế Nông nghiệp trường Đại học Kinh tế Quốc dân viết: “Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trong trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản” 1.2 Khái niệm về phát triển nông nghiệp Phát triển được hiểu là một quá trình lớn lên, tăng tiễn mọi lĩnh vực.
Bat cứ trong lĩnh vực nào, sự phát triển đều thỏa mãn các thành tố như: sự tăng lên về cả chất và lượng; sự thay đôi về cơ cấu, thể chế, chủng loại, tô chức; sự thay đổi về thị trường: và giữ công bang xã hội, an ninh, trật tự (Fajardo, 1999). Phát triển nông nghiệp cũng không năm ngoài nội dung đó. Theo đó, phát triển nông nghiệp là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Phát triển kinh tế nông nghiệp theo những khía cạnh sau: Phát triển sức sản xuất trong nông nghiệp; Phát triển phân công lao động trong nông nghiệp; Nâng cao dân trí; Giải quyết tốt vấn đề môi trường.
Phát triển nông nghiệp theo ngành là một quá trình lồng ghép dần từng bước tất cả các nguồn lực (nhân lực và vật lực) trong một ngành, làm cho sự phát triển hiện hành phù hợp với chính sách và khuôn khổ chỉ tiêu của ngành đó. Đối với nông nghiệp, ba ngành cần phải tiếp cận là trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Phát triển nông nghiệp theo vùng là phát triển nông nghiệp theo từng đặc điểm, tiềm năng của vùng như vùng đồng bằng, vùng trung du và miền núi,. Mỗi vùng có những đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn.
Vì thế, năng suất và hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp ở từng vùng sẽ khác nhau. Phát triển nông nghiệp phải đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường một cách bền vững. Về kinh tế, phát trién nông nghiệp cần tính đến hiệu quả sản xuất, tốc độ tăng trưởng của hiệu quả sản xuất và lợi nhuận. Về mặt xã hội, phát triển nông nghiệp cần quan tâm tới số lượng lao động được huy động và hiệu quả sử dụng lao động (thu nhập bình quân đầu người, tình trạng di cư, nhập cư), hệ thống thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như kha năng cung ứng vật tư nông nghiệp.3 Khái niệm phát triển nông nghiệp theo hướng bên vững Trong thập kỷ vừa qua, thuật ngữ “Nền nông nghiệp bền vững” đã trở thành câu nói của nhiều người.
Tuy nhiên, khái niệm “Nông nghiệp bền vững” được hiéu rất khác nhau. Ta có thé hiểu nom na là: “Nông nghiệp bền vững trước hết năng suất cây trồng, vật nuôi trên cùng một mảnh đất phải 6n định và có xu hướng ngày càng được nâng cao, hiệu quả kinh tế thu được cũng phải được nâng cao, nuôi sống được nhiều người và mức thu nhập cũng ngày càng được cải thiện mà không làm hủy hoại môi trường của tự nhiên và của cộng đồng”. Theo góc độ kinh tế phát triển: “Phat triển nông nghiệp theo hướng bên vững là sự phát triển kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa tăng trưởng nông nghiệp theo hướng bền vững với giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội nảy sinh trong sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong quá trình phát triển” Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững là một quá trình đa chiều, bao gồm: (1) tính bền vững của chuỗi lương thực (từ người sản xuất đến người tiêu thụ, liên quan trực tiếp đến cung cấp đầu vào, chế biến và thị trường); (2) tính bền vững trong sử dụng tài nguyên đất và nước về không gian và thời gian; và (3) khả năng tương tác thương mại trong tiến trình phát triển nông nghiệp và nông thôn dé đảm bảo cuộc sống đủ, an ninh lương thực trong vùng và giữa các vùng. Quan niệm về phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững đã có ảnh hưởng đến các cách thực hành trong nông nghiệp.
Các cách thực hành này phải đảm bảo tính chất bền vững, có nghĩa là phải đáp ứng đồng thời ba mục tiêu: (1) bền vững về sinh thái; (2) lợi ích về kinh tế; và (3) lợi ích xã hội đối với nông dân và cộng đồng. Trong số ba mục tiêu nêu trên, mục tiêu bền vững về sinh thái được coi là rất mới. Dé đạt được mục tiêu này, các chủ thể canh tác nông nghiệp phải đồng thời thực hiện quản lý đất bền vững, quản lý sâu bệnh bền vững và bảo vệ đa dạng sinh học. Nông nghiệp bền vững là việc quản lý có hiệu quả các nguôn lực dé thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà vẫn duy trì hay làm tăng thêm chất lượng của môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên(FAO).
Điêm tôi ưu cho Môi trường bền vững ` con ngươi Thống nhất hệ sinh thái Đa dạng sinh học Khả năng chuyên hóa Môi trường Kinh tế bền vững Xã hội bền vững Sự tăng trưởng Bản sắc văn hóa Sự phát triển Khả năng tiếp cận Hiệu quả Sự 6n định Theo dự báo đến 2025, trong 8,5 tỷ dân toàn cầu sẽ có 83% thuộc các nước đang phát triển, song tiềm năng tài nguyên, công nghệ dé thoả mãn nhu cầu của dân số đang tăng này về lương thực và các nông sản thiết yếu khác lại không chắc chắn và giới hạn. Nông nghiệp là ngành phải đáp ứng yêu cầu này trong điều kiện quỹ đất trồng trọt đã khai thác cạn, và lại phải tránh sử dụng những đất ít hoặc không thích hợp cho sản xuất nông nghiệp. Quan niệm “Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững” xứng đáng được đặt ở vị trí trọng tâm trong chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn của các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Hơn nữa, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giúp các quốc gia sớm đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG), bởi vì nó có mối liên kết chặt chẽ với các mục tiêu này, cụ thể là xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường.2 Vai trò và đặc trưng của phát triển nông nghiệp bền vững 1.1 Vai trò của phát triển nông nghiệp bên vững Nông nghiệp bền vững giúp chúng ta có nguồn thực phẩm tốt cho sức khỏe mà không làm ảnh hưởng xấu đến những thế hệ sau này.
Điều cốt lõi làm nên một nền nông nghiệp bền vững là tìm được sự cân bằng giữa nhu cầu sản xuất lương thực thực phẩm và việc bảo tồn hệ sinh thái môi trường. Đồng thời cũng thúc day ồn định kinh tế cho nông dân, giúp người nông dân có chất lượng cuộc sống tốt hơn. Bởi vì nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong nên kinh tế thế giới, khi mà có tới hơn 40% dân số thé giới làm việc trong ngành này (FAOStat 2011), việc dam bảo phát triển bền vững va an ninh lương thực luôn là vấn đề cấp thiết đối với mọi quốc gia.2 Đặc trưng của phát triển nông nghiệp bên vững Thứ nhất, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng ôn định, hiệu quả Mục tiêu tăng trưởng là mục tiêu theo đuôi của tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Bất cứ một ngành nào, một lĩnh vực nào nếu không có sự tăng trường đều sẽ gây trở ngại đối với tiễn trình phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế.
Đối với ngành sản xuất nông nghiệp, việc theo đuôi mục tiêu tăng trưởng có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Ngành nông nghiệp là ngành cung cấp toàn bộ lương thực thực phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hằng ngày của con người. Hoạt động tiêu dùng diễn ra liên tục đòi hỏi quá trình sản xuất cũng phải diễn ra liên tục tương ứng. Bên cạnh đó, cùng với quá trình gia tăng tiêu dùng là sự gia tăng nhanh chóng của dân số.
Nếu như ngành nông nghiệp không có sự tăng trưởng thì sẽ day toàn xã hội vào tình trạng thiếu lương thực. Đối với nền nông nghiệp truyền thống, tốc độ tăng trưởng rất thấp, đôi khi còn không có tăng trưởng do ảnh hưởng của các yêu tố thời tiết, việc tiếp tục duy trì nền nông nghiệp truyền thống sẽ kéo lùi sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Chính vì vậy việc đổi mới toàn diện khu vực nông nghiệp, nói khác đi là phát triển nông nghiệp bền vững thì mục tiêu tăng tăng trưởng được coi là một đặc trưng cơ bản. Mục tiêu tăng trưởng là mục tiêu cao nhất song mục tiêu đó sẽ không còn ý nghĩa nếu như những thành quả của sự tăng trưởng đó bị trả giá quá đắt. Nói khác đi kết quả của sự tăng trưởng đó phải thể hiện bảng hiệu quả trên thực tế.
Nếu như tăng trưởng mà không mang lại hiệu quả thì sự tăng trưởng đó hoàn toàn vô nghĩa, tăng trưởng phi thực tế. Hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp nói chung được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau nhưng tập trung nhất ở việc các sản phâm nông nghiệp làm ra sử dụng ít nhất các yếu tố đầu vào bao gồm cả các nguồn lực kinh tế lẫn tự nhiên. Các sản phẩm nông nghiệp là kết quả của quá trình tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu. Hoạt động sản xuất nông nghiệp có đặc trưng là phụ thuộc rất lớn vào các điều kiện thời tiết, khí hậu.
Do đó ngành sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất có tính chất bap bênh, không ổn định. Đối với nền nông nghiệp truyền thống, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, kỹ thuật lạc hậu nên hoạt động sản xuất thường không ồn định.