Nghiên cứu đạm, mạ ném và năng suất lúa Khang Dân 18 tại Tân Yên, Bắc Giang

Nghiên cứu khoa học khám phá ảnh hưởng của đạm và kỹ thuật mạ ném đến năng suất và chất lượng lúa Khang Dân 18. Phân tích kết quả thực nghiệm và đề xuất biện

Chuyên ngành

Nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu

2014

73
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đạm và mạ ném trên lúa Khang Dân 18

Lúa Khang Dân 18 là giống lúa thuần được nhiều nông dân vùng Bắc Bộ lựa chọn nhờ khả năng chống chịu tốt, năng suất ổn định. Giống lúa này phù hợp với điều kiện canh tác tại nhiều tỉnh đồng bằng. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm và mật độ mạ ném lên giống lúa này nhằm tối ưu hóa quy trình canh tác. Phân đạm đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng cây lúa. Đạm giúp cây phát triển bộ lá, tăng diện tích quang hợp và khả năng đẻ nhánh. Tuy nhiên, việc bón thiếu hoặc thừa đạm đều gây bất lợi cho năng suất. Mật độ gieo mạ ném cũng là yếu tố kỹ thuật then chốt. Mật độ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp nhận ánh sáng và sự cạnh tranh dinh dưỡng giữa các khóm lúa. Khi mật độ quá cao, cây lúa trở nên yếu ớt, dễ bị sâu bệnh tấn công. Ngược lại, mật độ quá thấp làm lãng phí diện tích canh tác. Nghiên cứu này xác định liều lượng đạm và mật độ mạ ném phù hợp nhất cho lúa Khang Dân 18.

1.1. Vai trò của cây lúa trong nền nông nghiệp Việt Nam

Cây lúa là cây lương thực quan trọng bậc nhất tại Việt Nam. Khoảng 40% dân số thế giới sử dụng gạo là nguồn lương thực chính. Việt Nam được coi là trung tâm khởi nguyên của cây lúa. Kết quả khảo cổ học chứng minh Bắc Việt Nam là một trong những điểm khởi nguồn lúa trồng ở châu Á. Từ năm 1990, sản xuất lúa đã có bước tiến vượt bậc. Năng suất trung bình đạt 55,7 tạ/ha. Việt Nam từ nước nhập khẩu gạo trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Sản xuất lúa đóng vai trò thúc đẩy nền kinh tế và nâng cao đời sống người dân.

1.2. Đặc điểm giống lúa Khang Dân 18

Lúa Khang Dân 18 là giống lúa thuần thuộc nhóm ngắn ngày. Giống này có khả năng chống đổ tốt, phù hợp canh tác vụ Xuân và vụ Mùa. Khang Dân 18 cho chất lượng gạo ngon, được thị trường ưa chuộng. Thời gian sinh trưởng của giống dao động từ 125 đến 130 ngày. Giống lúa này có khả năng chống chịu sâu bệnh tương đối tốt so với nhiều giống khác. Tuy nhiên, để đạt năng suất tối ưu, cần nghiên cứu kỹ thuật canh tác phù hợp. Liều lượng phân bón và mật độ gieo trồng là hai yếu tố cần được xác định chính xác.

II. Phân tích ảnh hưởng của đạm và mạ ném đến sinh trưởng lúa

Phân đạm ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình sinh trưởng và phát triển của lúa Khang Dân 18. Ở giai đoạn đẻ nhánh, cây lúa cần nhiều đạm để mở rộng diện tích quang hợp. Hiệu suất quang hợp chỉ tăng đến một giới hạn nhất định rồi giảm dần. Thiếu đạm khiến cây phát triển kém, năng suất thấp. Thừa đạm gây lốp đổ, tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển. Nhu cầu đạm phụ thuộc vào đặc tính từng giống và điều kiện sinh thái. Mật độ mạ ném cũng tác động lớn đến sinh trưởng quần thể lúa. Mật độ cao tạo sự cạnh tranh ánh sáng gay gắt giữa các cá thể. Cây lúa sống trong điều kiện chật hẹp trở nên yếu ớt. Chỉ số diện tích lá (LAI) phản ánh rõ ảnh hưởng của hai yếu tố này. Kết quả thí nghiệm cho thấy LAI thay đổi đáng kể giữa các công thức xử lý. Công thức có mật độ cao và đạm cao cho LAI lớn nhất. Sự khác biệt LAI giữa các công thức ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cuối cùng.

2.1. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến chỉ số diện tích lá

Liều lượng đạm tác động rõ rệt đến chỉ số diện tích lá của lúa Khang Dân 18. Ở giai đoạn đẻ nhánh hữu hiệu, LAI tăng theo liều lượng đạm tăng. Công thức xử lý với đạm cao nhất (N3) cho LAI lớn nhất. Giai đoạn trỗ bông, LAI đạt mức tối đa ở tất cả các công thức. Sau giai đoạn trỗ, LAI bắt đầu giảm do lá phía dưới tàn lụi. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây. Ở vụ Mùa, LAI thường thấp hơn so với vụ Xuân. Sự chênh lệch này liên quan đến điều kiện ánh sáng và nhiệt độ giữa hai vụ.

2.2. Ảnh hưởng của mật độ mạ ném đến sinh trưởng quần thể

Mật độ mạ ném ảnh hưởng trực tiếp đến sự cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng trong quần thể lúa. Mật độ cao làm tăng số khóm lúa trên đơn vị diện tích. Tuy nhiên, mật độ quá cao khiến mỗi cá thể nhận ít ánh sáng hơn. Cây lúa trở nên cao vống, thân yếu, dễ đổ ngã. Mật độ thấp giúp mỗi khóm lúa phát triển mạnh hơn. Nhưng tổng năng suất có thể không cao do thiếu số khóm hữu hiệu. Nghiên cứu chỉ ra mật độ trung bình thường cho kết quả tối ưu. Mật độ cần được điều chỉnh phù hợp với điều kiện đất đai và vụ mùa.

III. Phương pháp xác định liều lượng đạm và mật độ mạ ném tối ưu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thí nghiệm với các công thức xử lý khác nhau. Thiết kế thí nghiệm gồm ba mức mật độ gieo mạ và ba mức đạm. Ba mức mật độ (M1, M2, M3) tương ứng với số lượng hạt gieo khác nhau trên đơn vị diện tích. Ba mức đạm (N1, N2, N3) tương ứng với liều lượng phân urê khác nhau. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức lô phụ với ba lần lặp lại. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm sinh trưởng, năng suất và thành phần năng suất. Chỉ số diện tích lá được đo tại các giai đoạn sinh trưởng quan trọng. Giai đoạn đẻ nhánh hữu hiệu, trỗ bông và chín sáp là ba thời điểm đo chính. Kết quả cho thấy sự tương tác giữa mật độ và đạm có ý nghĩa thống kê. Công thức M3N3 cho LAI cao nhất tại tất cả các giai đoạn. Công thức M1N1 cho LAI thấp nhất trong toàn bộ thí nghiệm. Phương pháp phân tích phương sai được sử dụng để đánh giá ý nghĩa của các yếu tố.

3.1. Thiết kế thí nghiệm và các công thức xử lý

Thí nghiệm được thực hiện trên ruộng đất thịt pha tại vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ba mức mật độ gieo mạ ném gồm M1 (80 kg hạt/ha), M2 (100 kg hạt/ha), M3 (120 kg hạt/ha). Ba mức đạm gồm N1 (80 kg N/ha), N2 (100 kg N/ha), N3 (120 kg N/ha). Tổng cộng có chín công thức xử lý kết hợp. Mỗi công thức được lặp lại ba lần. Diện tích mỗi ô thí nghiệm đảm bảo đủ lớn để thu mẫu chính xác. Phân đạm được chia làm ba lần bón: bón lót, bón thúc đẻ nhánh và bón thúc trỗ bông. Các yếu tố khác như lân, kali được bón đồng đều cho tất cả các công thức.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu sinh trưởng được thu thập định kỳ 7 đến 10 ngày một lần. Chiều cao cây lúa được đo từ gốc đến ngọn lá cao nhất. Số nhánh hữu hiệu được đếm tại giai đoạn trỗ bông. Chỉ số diện tích lá (LAI) được đo bằng phương pháp trực tiếp. Mẫu lá được thu từ năm khóm đại diện mỗi ô thí nghiệm. Năng suất được xác định bằng cách thu hoạch toàn bộ ô thí nghiệm. Thành phần năng suất bao gồm số bông hữu hiệu, số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dụng. Phân tích phương sai (ANOVA) được áp dụng để kiểm tra ý nghĩa các yếu tố.

IV. Kết luận và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất

Kết quả nghiên cứu cho thấy cả đạm và mật độ mạ ném đều ảnh hưởng显著 đến lúa Khang Dân 18. Công thức M3N3 (mật độ cao kết hợp đạm cao) cho LAI lớn nhất tại các giai đoạn. Tuy nhiên, LAI cao không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với năng suất tối ưu. Quá nhiều đạm và mật độ cao có thể gây đổ ngã và sâu bệnh. Nghiên cứu xác định được khoảng liều lượng đạm và mật độ phù hợp cho giống lúa này. Ở vụ Xuân, LAI cao hơn so với vụ Mùa do điều kiện ánh sáng thuận lợi hơn. Nông dân cần điều chỉnh kỹ thuật canh tác theo từng vụ mùa cụ thể. Việc bón đạm cần chia đều nhiều lần để tăng hiệu quả sử dụng. Mật độ gieo mạ ném nên ở mức trung bình để cân bằng giữa số khóm và chất lượng từng cá thể. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho quy trình canh tác lúa Khang Dân 18 hiệu quả.

4.1. Khuyến nghị về liều lượng đạm cho lúa Khang Dân 18

Dựa trên kết quả thí nghiệm, liều lượng đạm khuyến nghị cho lúa Khang Dân 18 là từ 90 đến 110 kg N/ha. Lượng đạm này được chia làm ba lần bón. Lần thứ nhất bón lót chiếm khoảng 30% tổng lượng đạm. Lần thứ hai bón thúc đẻ nhánh chiếm khoảng 40%. Lần thứ ba bón thúc trỗ bông chiếm khoảng 30%. Việc chia đạm giúp cây hấp thụ hiệu quả, giảm tổn thất do rửa trôi. Không nên bón đạm quá muộn sau giai đoạn trỗ bông. Bón đạm quá muộn làm tăng nguy cơ đổ ngã và giảm chất lượng hạt gạo.

4.2. Khuyến nghị về mật độ gieo mạ ném phù hợp

Mật độ gieo mạ ném khuyến nghị cho lúa Khang Dân 18 là khoảng 90 đến 100 kg hạt/ha. Mật độ này đảm bảo đủ số khóm lúa trên đơn vị diện tích. Mỗi khóm lúa vẫn có đủ không gian để phát triển. Ánh sáng được phân bổ đều cho các tầng lá. Cây lúa phát triển khỏe mạnh, chống chịu tốt với điều kiện bất lợi. Mật độ cần được điều chỉnh tùy theo độ phì nhiêu của đất. Đất màu mỡ có thể gieo mật độ thấp hơn. Đất nghèo dinh dưỡng cần gieo mật độ cao hơn để đảm bảo số khóm hữu hiệu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới Cây lúa thuộc loại cây ngũ cốc có lịch sử lâu đời, trải qua quá trình chọn biến đổi và chọn lọc từ cây lúa hoang dại thành cây lúa như ngày nay. Lúa gạo có nguồn gốc nhiệt đới, do khả năng thích ứng rộng nên có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau và được phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới.

Theo nghiên cứu của nhiều tác giả ở nhiều nước như: Liên Xô (cũ), Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc… đã cho thấy nguồn gốc cây lúa thuộc vùng đầm lầy Đông Nam Á và hiện nay được phân bố rộng rãi trên khắp thế giới trải dài từ 530 Bắc tới 400 Nam, nhưng tập chung chủ yếu ở Châu Á chiếm tỷ lệ 61,2% diện tích trồng lúa thế giới, Châu Mỹ chiếm 6,3%, Châu Phi 3,1%, Châu Úc 1%. Trong đó, Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới với diện tích 37 triệu ha, tiếp theo là Trung Quốc 30,1 triệu ha. Bên cạnh đó, cũng có những nước có diện tích trồng lúa nhỏ như Jamaica 1 ha, Swaziland 35 ha. Châu Á có diện tích trồng và sản lượng lớn nhất nhưng năng suất cao nhất lại là ở Châu Âu và Châu Đại Dương.

Trong lịch sử phát triển thì cây lúa là loại cây trồng có tốc độ phát triển tương đối nhanh về cả diện tích, năng suất và sản lượng. Dưới đây là bảng số liệu về diện tích, năng suất và sản lượng lúa toàn thế giới giai đoạn 2006 – 2013 Bảng 1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới giai đoạn 2006 - 2013 Diện tích Năng suất Sản Lượng Năm (Triệu ha) (Tạ/Ha) (Triệu tấn) 2006 155.71 (Nguồn: FAOSTAT | © FAO Statistics Division 2014 ) 4 Qua bảng số liệu 1.1 cho ta thấy được tình hình sản xuất lúa trên thế giới có nhiều biến động. Diện tích trồng lúa có nhiều thay đổi từ 155.3 triệu ha năm 2006 xuống còn 150.0triệu ha năm 2007, nhưng sau năm 2008 thì diện tích có xu hướng tăng đều qua các năm.

Năng suất lúa có xu hướng tăng và khá ổn định qua các năm. Năng suất lúa thấp nhất là 41.3 tạ/ha vào năm 2006. Sau đó tăng khá đều qua các năm và đạt cao nhất là 45.48 tạ/ha vào năm 2012, năm 2013 năng suất đạt 45.27 tạ/ha giảm 0.21 tạ/ha so với năm 2012. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam Việt nam là một nước nông nghiệp với đa số người dân sinh sống bằng nông nghiệp.

Trải qua 4000 năm lịch sử cây lúa luôn gắn liền với sự phát triển của dân tộc. Nước ta nằm ở tọa độ 8030’ – 23023’ vĩ tuyến bắc và 102010’ – 109029’ kinh tuyến đông, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới. Với đặc điêm khí nậu này đã phần nào khẳng định tiềm năng về sự phát triển cây lúa. Cây lúa là cây lương thực chính trong mục tiêu phát triển nông nghiệp của Việt Nam để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu.

Lúa ở Việt Nam trải dài từ Bắc vào Nam và có 3 vùng trồng lúa chủ yếu là ĐB Sông Hồng, ĐB Sông Cửu Long và ĐB Duyên hải miền Trung. Trong đó, ĐB Sông Cửu Long (2,1 triệu ha) và ĐB Sông Hồng (1,7 triệu ha) được coi là 2 vựa lúa chính của cả nước. Về giá cả, Bộ công thương cho biết: Mặc dù bối cảnh chung thị trường xuất khẩu gạo gặp nhiều khó khăn, xuất khẩu gạo của Việt Nam những tháng đầu năm 2010 vẫn tăng mạnh về số lượng, lúa hàng hóa được tiêu thụ với mức giá tốt nhất, không ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Thị trường xuất khẩu gạo được mở rộng do Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và uy tín lúa gạo Việt Nam trên thị trường Thế giới được cải thiện.

Quá trình hội nhập sâu vào kinh tế Thế giới và khu vực, bên cạnh thách thức, lúa gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu. Trong khi đó nhu cầu gạo trên thị trường Thế giới và khu vực 5 năm tới dự báo vẫn tiếp tục sôi động do cầu vẫn tăng. Việt Nam và các nước như Indonesia, Philippin, Nhật Bản đã có sự phối hợp trong các hoạt động xuất khẩu gạo giữa các nước trên thị trường Thế giới. 5 Bên cạnh những thuận lợi thì xuất khẩu gạo Việt Nam cũng gặp những thách thức không nhỏ vì Việt Nam là thành viên của WTO nên thị trường nông sản nói chung, thị trường lúa gạo nói riêng sẽ mở rộng cửa cho hàng nhập khẩu từ các nước.

Hàng rào thuế quan và sự bảo hộ của Nhà nước đối với sản xuất và xuất khẩu gạo sẽ dần hạn chế và tiến tới bãi bỏ. Gạo Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Pakistan… và các nước khác có chất lượng cao, giá rẻ hơn sẽ tràn vào thị trường Việt Nam với thuế nhập khẩu không đáng kể (94% hàng hoá Mỹ nhập vào Việt Nam hưởng thuế suất 15%, trong đó hàng lương thực gạo, ngô không đáng kể). Do đó lúa gạo Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà, trong khi đó cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, chế biến gạo của ta còn lạc hậu. Dân số Việt Nam vẫn tăng nhanh, đạt xấp xỉ 87 triệu người năm 2010 trong khi quỹ đất dành cho trồng lúa có hạn, năng suất lúa nhiều vùng, nhất là ĐB sông Hồng gần như việc tăng năng suất thêm nữa là rất khó khăn.

Tập quán sản xuất nhỏ, quy mô gia đình, tự cung tự cấp, chạy theo năng suất xem nhẹ chất lượng gạo vẫn phổ biến trong hầu hết các hộ gia đình. Trình độ khoa học công nghệ, kiến thức thị trường của nông dân còn nhiều hạn chế. Đứng trước tình hình đó, chiến lược sản xuất lúa của Việt Nam trong thời gian tới là: Phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 40 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản xuất các giống lúa có chất lượng cao, dành 1 triệu ha để sản xuất lúa phục vụ mục tiêu xuất khẩu, duy trì, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các giống lúa có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu của sản xuất là một nhiệm vụ sống còn và phải đạt thành chương trình cấp quốc gia và phải huy động cả “4 nhà” (Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp) cùng tham gia thì mới hy vọng đạt được kết quả như mong đợi.2 ta thấy rằng: Diện tích trồng lúa của nước ta giữ ở mức ổn định từ 7,2 – 7,6 triệu ha, từ năm 2006 – 2008 diện tích có xu hướng giảm: 7,3 triệu ha giảm xuống 7,2 triệu ha, từ năm 2009 – 2013 diện tích có xu hướng tăng từ 7,4 triệu ha tăng lên 7,9 triệu ha. năng suất qua các năm trở lại đây có chiều hướng tăng: 52,3 tạ/ha (2009) tăng lên 55,7 tạ/ha (2013).

Năng suất chỉ tăng 1 tạ/ha. Sản lượng cũng theo đó tăng lên đạt mức 42 triệu tấn/năm. Sản lương thực của nước ta không ngừng tăng trong những năm qua. Nhưng để đối phó với diễn bến bất thường của thời tiết, sự gia tăng dân số và sự giảm dần diện tích gieo cấy do chuyển đổi mục đích sử dụng mà vẫn đảm bảo an ninh lương thực và 6 giữ vững vị thế là một trong những nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới thì điều kiện cần thiết là phải tiếp tục đầu tư thâm canh tăng vụ, lai tạo và nhập khẩu các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu tốt với sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi.

Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (Triệu ha) (Tạ/ha) (Triệu tấn) 2006 7.04 (nguồn: FAOSTAT | © FAO Statistics Division 2013 | 02 February2013) Nhằm tìm ra giải pháp an ninh lương thực quốc gia trong tương lai, ngày 21/8/2008, Cục Trồng Trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã tổ chức hội thảo “Chiến lược an ninh lương thực quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn 2030” tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong cuộc hội thảo, GS. Võ Tòng Xuân kiến nghị Ban soạn thảo đề án chiến lược an ninh lương thực quốc gia khẩn trương rà soát, xây dựng quy hoạch tổng quan về sản xuất lúa trên phạm vi toàn quốc và theo từng vùng để trình Quốc hội phê duyệt và cần có pháp lệnh quy hoạch đất đai để ổn định diện tích đất trồng lúa và một số cây trồng khác; đồng thời thiết lập hệ thống thông tin an ninh lương thực nhằm nắm chính xác tình hình sản xuất, thu hoạch, sản lượng lúa để chủ động lượng lúa gạo dự trữ và xuất khẩu. Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Bắc Giang Bảng 1.

Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2005 - 2012 Diện tích Năng suất Sản Lượng Năm (ha) (Tạ/Ha) (Tấn) 2005 114.152 (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang 2013) Qua bảng số liệu 1.3 cho thấy, từ năm 2005 đến 2009 diện tích canh tác lúa tại tỉnh Bắc Giang giảm 2. Nguyên nhân là do tỉnh dành một số quỹ đất nông nghiệp cho phát triển một số khu công nghiệp như: Khu công nghiệp Đình Trám, khu công nghiệp Quang Châu huyện Việt Yên, các khu công nghiệp ở huyện Hiệp Hòa, Yên Thế, Tân Yên và Yên Dũng. Mặt khác cũng do quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn như: Trồng ớt, trồng rau, lạc, hoa màu.Tuy nhiên sang năm 2010 diện tích lúa lại tăng 887 ha so với năm 2009. Nguyên nhân là do một số cây trồng không có hiệu quả cho nên nông dân chuyển sang canh tác lúa.

Mặc dù diện tích lúa giảm nhưng năng suất và sản lượng lúa ở Bắc Giang đều tăng lên qua các năm. Từ năm 2005-2012 sản lượng lúa tại tỉnh tăng lên 7,92 tạ/ha, sản lượng tăng lên 72. Nguyên nhân do việc tăng cường du nhập một số giống lúa mới, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Tình hình sản xuất và cơ cấu giống lúa ở huyện Tân Yên- Bắc Giang 1.

Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Tân Yên là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Giang, có diện tích tự nhiên 20,660. Tân Yên nằm sát thành phố Bắc Giang, cách thủ đô Hà Nội 60 km về phía Tây, cách thành phố Thái Nguyên 50 km về phía Tây Bắc. Phía Bắc giáp huyện Yên Thế; Phía Đông giáp huyện Lạng Giang; Phía Nam giáp huyện Việt Yên và thành phố Bắc Giang; Phía Tây giáp huyện Hiệp Hoà và tỉnh Thái Nguyên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ