MỞ ĐẦU. Tính cấp thiết. Mục tiêu đề tài. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn.
Ý nghĩa khoa học. Ý nghĩa thực tiễn. 2 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .Cơ sở khoa học của đề tài. Khái quát về rau an toàn.
Dinh dưỡng đạm cho rau và vấn đề tồn dư nitrat. Ngưỡng hàm lượng NO3- trong rau xanh .4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước. 24 Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tượng nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu. Nôi dung, vật liệu nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu. Vật liệu nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu. Điều tra thực trạng sản xuất rau. Phương pháp bố trí thí nghiệm nghiên cứu. Kỹ thuật gieo trồng rau.
Phương pháp lấy mẫu kiểm tra hàm lượng NO3-. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Phương pháp xử lý số liệu. 34 Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Đánh giá hiện trạng sử dụng phân bón cho rau. Ảnh hưởng của các liệu lượng bón đạm khác nhau đến năng suất và tồn dư nitrat trong cây cải xanh. Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến năng suất cải xanh. Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến tồn dư nitrat trong cây cải xanh.
Ảnh hưởng của thời gian bón đạm lần cuối đến tồn dư hàm lượng NO 3- trong rau cải xanh. Đề xuất biện pháp hạn chế tồn dư NO3- trong rau cải xanh. 45 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ. 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
PHỤ LỤC ẢNH. Tính cấp thiết Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người, rau cung cấp nhiều vitamin, chất khoáng, chất xơ… cho cơ thể và rau có tính dược lý cao mà các thực phẩm khác không thể thay thế được. Đồng thời, rau còn là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước. Vì thế, đây là loại thực phẩm rất cần thiết và có vai trò quan trọng đối với sức khỏe của con người.
Trước tình hình thế giới hiện nay, dân số ngày càng tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng lớn. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, đời sống của con người được nâng cao chất lượng lương thực thực phẩm, nên buộc ngành nông nghiệp phải sản xuất rau nhiều hơn. Vì vậy, bón phân là một trong những biện pháp làm tăng năng suất của cây trồng để đáp ứng nhu cầu của con người. Tuy nhiên, việc sử dụng lượng lớn và không đúng qui định phân hóa học đã dẫn đến dư lượng nitrat tồn dư trong các sản phẩm nông sản cao gây ra ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe của người tiêu dùng.
Việc sản xuất rau không thể không chú trọng tới hàm lượng nitrat, Trong một số lương thực, thực phẩm và nước uống mà con người hấp thụ hàng ngày rau đưa vào cơ thể người lượng nitrat cao nhất. Dù rằng, tính độc của nitrat thấp nhưng hàm lượng nitrat vượt quá ngưỡng cho phép trong nông sản sẽ nguy hiểm tới sức khỏe, tuổi thọ của con người. Hàm lượng NO 3- trong rau đã được coi là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá rau “an toàn” Hàm lượng NO3- trong rau chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: Loại rau, khí hậu, điều kiện canh tác (phân bón, thuốc trừ cỏ, đất đai, không khí…)…Trong đó phân bón cũng ảnh hưởng lớn nhất tới hàm lượng NO 3- trong rau. 2 Từ những nghiên cứu cơ bản này, các nhà khoa học đã đề cập đến việc sản xuất rau sạch, rau an toàn cho một số loại rau.
Một số cơ quan địa phương, cơ quan đã và đang áp dụng sản xuất rau an toàn, nhưng vấn đề tồn dư NO3- trong rau vẫn còn cao so với ngưỡng giới hạn. Xuất phát từ các vấn đề trên để đáp ứng yêu cầu của thực tế, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và thời gian bón phân đạm đến tồn dư Nitrat trong rau cải xanh ở vụ đông năm 2015 Hà Giang”. Mục tiêu đề tài Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và thời gian bón tới năng suất, tồn dư NO3- trong rau. Từ đó lựa chọn mức bón rau an toàn và loại phân bón phù hợp để áp dụng vào sản xuất rau an toàn.
Ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn 3. Ý nghĩa khoa học - Cung cấp cơ sở khoa học cho việc hạn chế ảnh hưởng phân bón đến tồn dư NO3- trong rau xanh. Ý nghĩa thực tiễn - Đóng góp cơ sở để xây dựng qui trình sản xuất rau an toàn - Góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất cải xanh an toàn theo hướng VietGAP, có hiệu quả trong điều kiện huyện Bắc Quang, Hà Giang. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Cơ sở khoa học của đề tài Bằng kinh nghiệm sản xuất của mình nhân dân ta đã đúc kết “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” câu nông dao trên đã khẳng định vai trò của phân bón trong hệ thống liên hoàn tăng năng suất cây trồng.
Phân hóa học không chỉ có nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng, phát triển mà còn có tác dụng tăng chất hữu cơ cho đất thông qua việc làm tăng sinh khối cây trồng. Nếu toàn bộ sản phẩm của cây trồng được trả lại cho đất thì độ phì của đất được ổn định và nâng cao dần. Trong mấy thập kỉ qua, năng suất cây trồng không ngừng tăng lên, ngoài vai trò của giống mới, phân bón cũng có vai trò quyết định. Giống mới chỉ có thể phát huy được tiềm năng, cho năng suất cao nhất khi được bón đầy đủ và hợp lí.Khi bón phân phải kết hợp giữa phân vô cơ và phân hữu cơ thì mới phát huy được hiệu quả cao và bền vững.
Việc sử dụng phân bón thông thường cây hấp thu nhờ lông hút của bộ rễ và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: đất, nước, giống, thời tiết, vi sinh vật, phân chuồng… Mặt khác, chi phí phân bón trong nông nghiệp chiếm đến 30% - 50% , trong đó, mục đích của người sản xuất không chỉ nhằm đặt năng suất tối đa mà còn tìm lợi nhuận cao nhất cho nên con người phải tìm đến những biện pháp kỹ thuật bón phân cân đối hợp lý cho từng loại cây trồng khác nhau. Bón phân vô cơ là rất tốt cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, tuy nhiên nếu bón không đúng nồng độ, liều lượng, thời gian cách ly không đảm bảo sẽ dẫn đến tình trạng dư lượng NO3- trong sản phẩm vượt quá ngưỡng cho phép ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và sức khỏe người tiêu dùng (Tạ Thu Cúc (2006) [1]. Vì vậy, trong việc sử dụng phân đạm hay bất cứ loại phân nào khác ta phải sử dụng hợp lý cho từng loại cây trồng, giai đoạn sinh trưởng, loại đất, nước, vi sinh vật và mùa vụ khác nhau…đồng thời, bón đúng 4 chủng loại, đúng lúc đúng cách đúng nồng độ, liều lượng, đảm bảo thời gian cách ly, như vậy, sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng phí và bảo vệ môi trường. Khái quát về rau an toàn 1.
Khái niệm về rau an toàn Những sản phẩm rau tươi (bao gồm các loại rau ăn lá, củ, thân, hoa, quả) có chất lượng như đặc tính của chúng, mức độ nhiễm các chất độc hại và các vi sinh vật gây hại không vượt qua chỉ tiêu cho phép, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và nuôi trồng được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là “Rau an toàn” (theo Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn) 1. Chất lượng của rau an toàn Rau an toàn phải đạt được các yếu tố sau: - Chỉ tiêu về hình thái: Sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng với yêu cầu từng loại rau, không dập nát, hư thối, không lẫn tạp chất, sâu bệnh và có bao gói thích hợp (tùy loại). - Chỉ tiêu nội chất: Chỉ tiêu nội thất được quy định cho rau tươi bao gồm: Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật; Hàm lượng Nitrat (NO3-); Mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (E.coli, Salmonella…), và ký sinh trùng đường ruột; Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu như ( Cd, Pb, Cu, Zn,. Tất cả các chỉ tiêu trong từng loại rau phải đạt mức cho phép theo tiêu chuẩn của FAO/WHO.
Giá trị của cây rau a. Giá trị dinh dưỡng - Rau là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể con người. - Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu tiêu thụ rau bình quân hàng ngày của mỗi người trên thế giới cần khoảng 250- 300g/ngày/người tức 90-110kg/người/năm. Rau cung cấp cho cơ thể con 5 người các chất dinh dưỡng quan trọng như các loại vitamin, muối khoáng, axit hữu cơ, các hợp chất thơm, cũng như protein, lipit, chất xơ, vv.Trong rau xanh hàm lượng nước chiếm 85-95%, chỉ có 5-15% là chất khô.
Trong chất khô lượng cacbon rất cao (cải bắp 60%, dưa chuột 74-75%, cà chua 75- 78%, dưa hấu 92%). Giá trị dinh dưỡng cao nhất ở rau là hàm lượng đường (chủ yếu đường đơn) chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần cacbon. Nhờ khả năng hoà tan cao, chúng làm tăng sự hấp thu và lưu thông của máu, tăng tính hoạt hoá trong quá trình ôxy hoá năng lượng của các mô tế bào. Một số loại rau như khoai tây, đậu (nhất là đậu ăn hạt như đậu Hà Lan, đậu Tây), nấm, tỏi cung cấp 70 - 312 calo/100g nhờ các chất chứa năng lượng như protit, gluxit.
- Rau là nguồn cung cấp vitamin phong phú và rẻ tiền. Rau có chứa các loại vitamin A (tiền vitamin A), B1, B2, C, E và PP vv. Trong khẩu phần ăn của nhân dân ta, rau cung cấp khoảng 95 - 99% nguồn vitamin A, 60-70% nguồn vitamin B (B1, B2, B6, B12) và gần 100% nguồn vitamin C. Vitamin có tác dụng làm cho cơ thể phát triển cân đối, điều hòa, các hoạt động sinh lý của cơ thể tiến hành bình thường.
Thiếu một loại vitamin nào đó sẽ làm cho cơ thể phát triển không bình thường và phát sinh ra bệnh tật. Nếu ăn uống lâu ngày thiếu rau xanh ta thường thấy xuất hiện các triệu chứng như da khô, mắt mờ, quáng gà. do thiếu vitamin A, bệnh chảy máu chân răng, tay chân mỏi mệt, suy nhược do thiếu vitamin C, miệng lưỡi lở loét, viêm ngứa chủ yếu do thiếu vitamin PP, tê phù do thiếu vitamin B (chủ yếu là B1). Ngoài ra thiếu vitamin làm giảm sức dẻo dai, hiệu suất làm việc kém, dễ phát sinh nhiều bệnh tật, khi mắc bệnh chữa cũng lâu lành.