Đặt vấn đề Từ lâu đời nay, nƣớc ta đƣợc biết đến là một nƣớc nông nghiệp có truyền thống lâu đời.Trƣớc đây, nghề trồng cây lƣơng thực đóng góp đa số cho ngành nông nghiệp nƣớc ta.Và hiện nay, việc gia tăng sản lƣợng thực phẩm từ chăn nuôi gia súc cũng đã đem lại những bƣớc tiến mới trong nông nghiệp. Nó đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, từ trồng trọt sang chăn nuôi, đồng thời cải thiện đáng kể đời sống kinh tế của nông dân.Tuy nhiên, việc phát triển các hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm tự phát một cách tràn lan, ồ ạt trong điều kiện ngƣời nông dân thiếu vốn, thiếu hiểu biết đã làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trƣờng và ảnh hƣởng đến sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt với các trang trại chăn nuôi có quy mô vừa và nhỏ,có số lƣợng heo lớn, đã gây ra ô nhiễm môi trƣờng ngày càng nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trƣờng do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ chất thải chăn nuôi heo nhƣ: chất thải rắn, lỏng.
Đối với các trang trại chăn nuôi, thì chất thải chăn heo gây ô nhiễm môi trƣờng có ảnh hƣởng trực tiếp tới sức khỏe con ngƣời, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh và chi phí phòng trị bệnh, giảm năng suất và hiệu quả kinh tế, sức đề kháng của gia súc, gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Hiện nay tỉ lệ các bệnh dịch từ gia súc, gia cầm đang gia tăng ở nhiều nƣớc trên thế giới.Nếu vấn đề này không đƣợc giải quyết triệt để sẽ gây ô nhiễm môi trƣờng và tác động nghiêm trọng, ảnh hƣởng xấu đến sức khoẻ cộng đồng đặc biệt là với những ngƣời trực tiếp chăn nuôi gia súc, gia cầm.Việt Nam là nƣớc có nền nông nghiệp đang phát triển mạnh mẽ, tỉ lệ các trang trại có quy mô ngày càng nhiều và ngày càng một tăng lên. Các chất thải chăn nuôi heo gây ô n 2 nhiễm môi trƣờng do các loại vi sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm), có thể là nguồn mang các loại bệnh nguy hiểm ra ngoài môi trƣờng, con ngƣời cũng nhƣ lây nhiễm một số bệnh cho heo nhƣ: Cúm heo, dich tả, tai xanh, ỉa chảy, lở mồm long móng,.Nếu nhƣ nƣớc thải không đƣợc xử lý đúng quy trình kỹ thuật. Ba Vì là một trong những khu vực có số lƣợng trang trại chăn nuôi nhiều của nƣớc ta, nhất là chăn nuôi heo ngày càng phát triển với số lƣợng ngày càng tăng.
Kéo theo đó là phân của nó cũng ngày một tăng và có nhiều thành phần gây ô nhiễm cho môi trƣờng. Vấn đề về phân cũng trở thành điểm nóng ảnh hƣởng xấu tới môi trƣờng đất, nƣớc, và sức khỏe chăn nuôi heo của các trang trại heo Ba Vì nói riêng và các trang trại chăn nuôi heo của Việt Nam nói chung. Vì vậy, xuất phát từ thực tế đó, em tiến hành làm đề tài “Đánh giá hiện trạng và tình hình xử lý chất thảichăn nuôi heo tại trại Lộcxã Vật Lại -huyện Ba Vì –Thành phố Hà Nội ” 1.Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng chăn nuôi tại trại Lộc, xã Vật Lại – huyện Ba Vì – Thành phố Hà Nội. -Đánh giá hiện trạng thu gom chất thải tại trại Lộc,xã Vật Lại - huyện Ba Vì –Thành phố Hà Nộị.
-Đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi heo đang áp dụng tại trại chăn nuôi heotại trại Lộc- xã Vật Lại -huyện Ba Vì – Thành phố Hà Nội. -Đề xuất một số giải pháp trong xử lý chất thải chăn nuôi tại trại Lộc, xãVật Lại – huyện Ba Vì – Thành phố Hà Nội. Ý nghĩa đề tài -Ý nghĩa trong học tập: + Là cơ hội để giúp sinh viên tiếp cận với công việc khi ra trƣờng. n 3 + Vận dụng kiến thức đã học vào thực tế.
+ Nâng cao kiến thức và hiểu biết về cách xử lý nƣớc thải chăn nuôi heo để phục vụ cho công việc học tập và nghiên cứu sau này. + Biết đƣợc một số thành phần gây ô nhiễm có trong chất thải cũng nhƣ giải pháp ô nhiễm cho trang trại chăn nuôi heo. -Ý nghĩa khoa học: Đề tài nhằm vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiểu biết về công tác quản lý và xử lý ô nhiễm môi trƣờng cho chủ trại chăn nuôi.Đồng thời kết quả nghiên cứu còn phục vụ cho việc học tập và công tác nghiên cứu sau này. Yêu cầu của đề tài -Các số liệu điều tra phải chính xác, khách quan và đáng tin cậy.
-Nội dung nghiên cứu phải thực hiện đƣợc các mục tiêu đề ra -Giải pháp phải khả thi, đáp ứng các yêu cầu về xử lý ô nhiễm môi trƣờng của khu vực. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Khái niệm về chất thải chăn nuôi Chất thải chăn nuôi là chất thải phát sinh trong quá trình chăn nuôi nhƣ phân, nƣớc tiểu, xác súc vật.
Chất thải CN đƣợc chia làm 3 loại: chất thải rắn, chất thải lỏng và chất thải khí. Trong chất thải chăn nuôi có nhiều chất hữu cơ, vô cơ, vi sinh vật và trứng kí sinh trùng có thể gây bệnh cho động vật và con ngƣời. Nguồn gốc phát sinh chất thải chăn nuôi - Chất thải rắn bao gồm chủ yếu là phân từ thức ăn nƣớc uống mà cơ thể gia súc không hấp thụ đƣợc và thải ra ngoài cơ thể. Tùy theo loại gia súc,thức ăn, độ tuổi, khẩu phần ăn,khác nhau mà lƣợng phân thải ra cũng sẽ khác nhau cả về khối lƣợng lẫn thành phần.
+ Xác súc vật chết là nguồn gây ô nhiễm chính cần phải đƣợc xử lý để nhằm tránh lây lan cho con ngƣời và vật nuôi. + Thức ăn thừa, vật liệu lót chuồng và các vật chất khác có thành phần đa dạng gồm: Cám, bột ngũ cốc, bột tôm, bột cá, các khoáng chất bổ sung, rau xanh, các loại kháng sinh, các loại rơm rạ. - Chất thải lỏng (nƣớc thải) có độ ẩm cao hơ, trung bình khoảng 93% - 98% gồm phần lớn là nƣớc thải của vật nuôi, nƣớc rủa chuồng và phân lỏng hòa tan. Đây là một nguồn chất thải ô nhiễm nặng.
- Chất thải khí là các loại khí sinh ra trong quá trình chăn nuôi, quá trình phân hủy các chất hữu cơ ở dạng rắn và lỏng. n 5 + Mùi hôi chuồng nuôi là do hỗn hợp khí đƣợc tạo ra từ quá trình lên men phân hủy phân, nƣớc tiểu gia súc, thức ăn dƣ thừa…Cƣờng độ của mùi phụ thuộc mức độ thông thoáng của chuồng nuôi, tình trạng vệ sinh, mật độ nuôi, điều kiện bên ngoài nhƣ nhiệt độ, độ ẩm. + Sự hình thành khí chuồng nuôi NH3 và H2S đƣợc hình thành chủ yếu từ quá trình phân hủy của phân do các vi sinh vật gây mùi hôi, ngoài ra NH3 còn đƣợc sinh ra từ sự phân giải urê từ nƣớc tiểu. Cơ sở pháp lý Công tác quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng phải đƣợc dựa trên các văn bản pháp luật, pháp quy của cơ quan quản lý nhà nƣớc.
Hiện nay đã có các văn bản chính về quản lý và bảo vệ môi trƣờng, đó là: - Luật Bảo vệ môi trƣờng số 55/2014/QH13, ban hành ngày 23 tháng 6 năm 2014 -Nghị định155/2016/NĐ-CP, ngày 14 tháng 11 năm 2013 về việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng -Nghị định 19/2015/NĐ-CP, ngày 14 tháng 02 năm 2015, về việc quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trƣờng. - Thông tƣ số 27/2011/TT-BNNPTNT: ngày 13 tháng 04 năm 2011 Quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại - Nghị quyết 41/NQ-TU của Bộ chính trị về bảo vệ môi trƣờng trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nƣớc. - Thông tƣ số 04/2010/TT-BNNPTNN ngày 15 tháng 1 năm 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành 02 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện trại chăn nuôi heo, trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học. - Thông tƣ số 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 01 tháng 06 năm 2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y.
n 6 -Thông tƣ số 30/2012/ TT-BNNPTNT ngày 03 tháng 07 năm 2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện vệ sinh thú y. - Thông tƣ 04/2010/TT-BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về điều kiện trại chăn nuôi heo, trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học. Tổng quan tình hình chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam 2. Giới thiệu về ngành chăn nuôi trên thế giới - Chăn nuôi thế giới tầm nhìn 2020 Một cuộc cách mạng đang diễn ra đối với ngành nông nghiệp trên toàn cầu, mang những thông điệp rõ ràng về y tế cộng đồng, sinh kế và môi trƣờng.
Gia tăng dân số, đô thị hóa và thu nhập tăng ở các nƣớc đang phát triển dẫn đến nhu cầu to lớn về thực phẩm có nguồn gốc động vật. Những thay đổi trong khẩu phần ăn của nhiều triệu ngƣời có thể cải thiện đáng kể cuộc sống của nhiều ngƣời nghèo ở nông thôn. *Sự chuyển đổi tiêu dùng và sản xuất Không giống nhƣ “Cách mạng xanh” đƣợc điểu khiển bởi nguồn cung ứng, “Cách mạng chăn nuôi” đƣợc điều khiển bởi nhu cầu. Vào đầu những năm 1970 và giữa những năm 1990, khối lƣợng thịt đƣợc tiêu dung ở các nƣớc đang phát triển đã tăng lên gần ba lần, bằng lƣợng thịt tiêu thụ ở các nƣớc đang phát triển nhanh hơn ở giai đoạn thứ hai của thời kì này, và châu á thực sự nổi lên là một thị trƣờng dẫn đầu về tiêu thụ thịt trong khu vực.
Thịt đƣợc tiêu dung gồm thị bò, thịt heo, thịt cừu, thịt dê và thịt gia cầm. Ƣớc lƣợng về sản lƣợng thịt ở Trung Quốc vào đầu những năm 1990 vƣợt quá con số thực tế, tiêu dung thịt thực sự vào năm 1993 của Trung Quốc là 30 triệu tấn (tỉ lệ tăng trƣởng hang năm từ năm 1983 là 6,3%). Nếu con số trên là đúng thì mức độ tiêu thụ thịt trên thế giới cho năm 1993 đạt tới 4,3% và thấp hơn cho năm 2020, vì tổ chức IMPACT (International Model for n 7 Policy Analysis of Agricultural Consumption = Mô hình quốc tế để phân tích chính sách trong tiêu thụ nông sản) đã kết hợp các dự tính bi quan đó nhƣng không phù hợp với cách nhìn nhận bảo thủ cho năm 1993.