Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Cơ sở pháp lý của đề tài - Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. - Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính Phủ về quản lý chất thải và phế liệu. - Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường. - Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007 của chính phủ ban hành quy định về hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền hạn và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan đến QLCTR. - Nghị định số 179/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT.
- Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. - Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2050. - Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý chất thải rắn. Cơ sở thực tiễn của đề tài Trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay thì vấn đề rác thải là vấn đề vô cùng được quan tâm.
Sự phát sinh rác 4 thải đã và đang gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí nghiêm trọng. Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, những năm trở lại đây do sự phát triển về kinh tế và gia tăng dân số dẫn đến lượng rác thải gia tăng nhanh chóng. Việc nghiên cứu hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt giúp chúng ta hiểu biết và có những cái nhìn đúng nhất nhất về công tác quản lý rác sinh hoạt trên địa bàn và là cơ sở để có những giải phát tích cực khắc phục và giải quyết. Từ những hiểu biết đó giúp tuyên truyền một cách tốt nhất ý thức bảo vệ môi trường tới người dân.
Khái niệm về chất thải Chất thải là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người tác động vào thiên nhiên thải ra môi trường (Nguyễn Đình Hương,2006) [10]. Chúng là những sản phẩm được phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại khu dân cư, trường học, gia đình, nhà hàng. Theo điều 3 nghị định 38/2015/NĐ-CP (2015)[7] về quản lý chất thải và phế liệu và luật bảo vệ môi trường (2014)[18]: + Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải. + Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác + .Phế liệu là vật liệu được thu hồi, phân loại, lựa chọn từ những vật liệu, sản phẩm đã bị loại bỏ từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng để sử dụng làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác.
+ Phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định) trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau. + Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển. + Tái sử dụng chất thải là việc sử dụng lại chất thải một cách trực tiếp hoặc 5 sau khi sơ chế mà không làm thay đổi tính chất của chất thải. + Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ chất thải.
+ Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải. Khái niệm và phân loại về chất thải rắn sinh hoạt 1. Nguồn gốc và sự hình thành Rác thải sinh hoạt (chất thải rắn sinh hoạt):Là các chất thải rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động, sản xuất của con người và động vật. Ví dụ như: Thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, gạch ngói, đất đá, gỗ, kim loại, cao su, chất dẻo, các loại cành cây, lá cây, vải, giấy, rơm rạ, vỏ trai, vỏ ốc, xương động vật…(Lê Văn Khoa, 2001) [12].
Chất thải rắn sinh hoạt được thải ra ở mọi nơi mọi lúc trong phạm vi thành phố hoặc khu dân cư, từ các hộ gia đình, khu thương mại, chợ và các điểm buôn bán, nhà hàng, khách sạn, công viên, khu vui chơi giải trí, các viện nghiên cứu, trường học, các cơ quan nhà nước, công sở… 1. Phân loại chất thải rắn sinh hoạt Để phân loại chất thải rắn sinh hoạt có thể dựa trên rất nhiều tiêu chí khác nhau: phân loại theo vị trí hình thành, theo thành phần vật lý, hóa học, theo tính chất rác thải… - Theo vị trí hình thành: Tùy theo vị trí hình thành mà người ta phân ra rác thải đường phố, rác thải vườn,rác thải khu công nghiệp tập trung, rác thải hộ gia đình……(Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Quang Huy, 2004) [17]. - Theo mức độ nguy hại, chất thải được phân thành các loại sau: + Chất thải nguy hại: bao gồm các chất hóa học dễ phản ửng, các chất độc hại, chất thải sinh học dễ thói rữa, các chất dễ cháy, dễ gây nổ, chất thải phóng xạ……(Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Quang Huy, 2004) [17]. 6 + Chất thải không nguy hại: là những chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Theo thành phần hóa học và vật lý: Theo tính chất hóa học có thể phân ra chất thải hữu cơ, chất thải vô cơ, kim loại, phi kim…(Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Quang Huy, 2004) [17]. Nguồn gốc phát sinh và thành phần chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, có thể ở nơi này hay nơi khác; chúng khác nhau về số lượng, kích thước, phân bố về không gian; việc phân loại các nguồn phát sinh chất thải rắn đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý chất thải rắn. Chất thải rắn sinh hoạt có thể phát sinh trong các hoạt động cá nhân cũng như trong hoạt động xã hội như từ các khu dân cư, chợ, khách sạn, nhà hàng, công sở, trường học, các công trình công cộng, các hoạt động xây dựng đô thị và các khu công nghiệp: Thành phần chất thải rắn biểu hiện sự đóng góp và phân phối của các thành phần riêng biệt mà từ đó tạo nên dòng chất thải, thông thường được tính bằng phần trăm khối lượng. Thông tin về thành phần chất thải rắn đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn những thiết bị thích hợp để xử lý, các quá trình xử lý cũng như việc hoạch định các hệ thống, chương trình và kế hoạch quản lý chất thải rắn.
Thành phần chủ yếu của CTRSH Thành phần Định nghĩa Ví dụ 1. Các chất cháy được (đốt được) a. Giấy các vật liệu làm từ giấy bột và các túi giấy, mảnh bìa, giấy. giấy vệ sinh… b.
Hàng dệt có nguồn gốc từ các sợi Vải, len, nilon… c. Thực phẩm các chất thải từ đồ ăn thực cọng rau, vỏ quả, thân phẩm cây, lõi ngô… d. Cỏ, gỗ củi, rơm Các vật liệu và sản phẩm Đồ dùng bằng gỗ như rạ được chế tạo từ gỗ, tre, bàn ghế, đồ chơi, vỏ dừa rơm… e. Chất dẻo Các vật liệu và sản phẩm Phim cuộn, túi chất dẻo, được chế tạo từ chất dẻo chai, lọ.
Chất dẻo, các đầu vòi, dây điện… f. Da và cao su Các vật liệu và sản phẩm được Bóng, giày, ví, băng cao chế tạo từ da và cao su su… 2. Các chất không cháy được a. Các kim loại sắt Các vật liệu và sản phẩm b.
Các kim loại phi được chế tạo từ sắt mà dễ bị sắt nam châm hút. Các kim loại Các vật liệu không bị nam Vỏ nhôm, giấy bao phi sắt châm hút gói, vỏ đựng. Thủy tinh Các vật liệu và sản phẩm Chai lọ, đồ đựng được chế tạo từ thủy tinh. bẳng thủy tinh, bóng đèn… d.
Đá và sành sứ Bất kỳ các loại vật liệu Vỏ chai, ốc, xương, không cháy khác ngoài kim gạch, đá, gốm… loại và thủy tinh. Các chất hỗn Tất cả các vật liệu khác không Đá cuội, cát, đất, tóc. hợp phân loại trong bản này. Loại này có thể chia thành 2 phần: kích thước hơn 5mm và loại nhỏ hơn 5 mm.
Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng 1. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường Tại Việt Nam, hoạt động phân loại CTR tại nguồn chưa được phát triển rộng rãi, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật còn hạn chế, phần lớn phương tiện thu gom CTR không đạt quy chuẩn kỹ thuật và không đảm bảo vệ sinh môi trường. Các điểm tập kết CTR (điểm hẹn, trạm trung chuyển) chưa được đầu tư xây dựng đúng mức, gây mất vệ sinh. Tại nhiều khu vực, hệ thống vận chuyển chưa đáp ứng nhu cầu vận chuyển CTR hang ngày, gây tình trạng tồn đọng CTR trong khu dân cư.
Nhìn chung, tất cả các giai đoạn quản lý CTR từ khâu thu gom, vận chuyển đến khâu xử lý (chôn lấp, đốt) đều gây ô nhiễm môi trường. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến tất cả các thành phần của môi trường, cụ thể như sau: • Đối với môi trường nước: CTR không được thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô nhiễm môi trường nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích tiếp xúc của nước với không khí dẫn tới giảm DO trong nước. Chất thải rắn hữu cơ phân hủy trong nước gây mùi hôi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái.