Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng đáng kể sau trồng trọt và đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm cũng như ổn định thu nhập cho người dân nông thôn. Tuy nhiên, hình thức chăn nuôi chủ yếu vẫn mang tính chất quy mô nông hộ nhỏ lẻ và phân tán. Việc quản lý và xử lý chất thải chưa được đầu tư đúng mức do hạn chế về nhận thức và kinh phí, dẫn đến nguy cơ bùng phát mầm bệnh, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.

Tại xã Phúc Ứng, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, hoạt động kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp với tổng đàn gia súc, gia cầm ngày càng tăng (năm 2014 đạt 28.520 con gà). Sự gia tăng này kéo theo lượng chất thải chăn nuôi phát sinh hàng ngày rất lớn. Trong khi các hộ chăn nuôi lợn quy mô từ 10 con trở lên đã bắt đầu áp dụng hầm biogas, các hộ nuôi gà hầu như chưa có biện pháp xử lý đạt chuẩn mà thường sử dụng trực tiếp phân tươi bón cho cây trồng, làm phát tán mùi hôi thối, khí độc và vi khuẩn gây bệnh. Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả Phạm Duy Cường đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường nhằm đánh giá khả năng áp dụng mô hình đệm lót sinh học bằng chế phẩm vi sinh BIO-TMT trong xử lý chất thải chăn nuôi gà quy mô nông hộ tại địa phương.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm:

  1. Đánh giá hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi gà của chế phẩm BIO-TMT thông qua việc theo dõi các chỉ tiêu lý học, hóa học, sinh học của các mô hình thực nghiệm và điều tra lấy ý kiến người dân tại khu vực nghiên cứu.
  2. Tạo tiền đề cho việc ứng dụng rộng rãi chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải chăn nuôi, góp phần cải thiện môi trường nông thôn, nâng cao hiệu quả kinh tế và xây dựng niềm tin cho người nông dân đối với các biện pháp công nghệ sinh học xử lý môi trường.
  • Đối tượng nghiên cứu: Chất thải phát sinh từ các hộ gia đình chăn nuôi gà và hiệu quả của các mô hình làm đệm lót sinh học sử dụng chế phẩm BIO-TMT.
  • Phạm vi không gian: Các hộ chăn nuôi gia cầm tại địa bàn xã Phúc Ứng, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (tập trung tại thôn Tân Thịnh và thôn Tân Thượng).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được tiến hành từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm khoa học

  • Chất thải chăn nuôi: Toàn bộ các chất thải phát sinh từ quá trình chăn nuôi và các hoạt động phụ trợ, bao gồm phân, nước tiểu, chất độn chuồng, thức ăn thừa và khí thải độc hại ($NH_3$, $H_2S$, $SO_2$).
  • Chế phẩm BIO-TMT: Chế phẩm sinh học do Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nghiên cứu và pha chế, dựa trên nguyên lý vi sinh vật hữu hiệu (Effective Microorganisms - EM) do Giáo sư Teruo Higa (Đại học Ryukyus, Nhật Bản) phát triển. Chế phẩm là tập hợp cộng sinh của 5 nhóm vi sinh vật có ích:
    1. Vi khuẩn Lactic: Thuộc nhóm vi khuẩn Gram dương, phân giải carbohydrate và đường kỵ khí, sinh axit lactic khử trùng mạnh, ức chế vi sinh vật gây hại và nấm Fusarium, phân cắt hợp chất xenluloza.
    2. Xạ khuẩn (Actinomycetes): Nhóm vi sinh vật dạng sợi, tiết enzym phân giải xenluloza, tinh bột và sinh chất kháng sinh tự nhiên giúp ức chế nấm hoại sinh và vi khuẩn gây bệnh.
    3. Vi khuẩn quang hợp: Nhóm vi khuẩn tự dưỡng sử dụng sắc tố Bacteriochlorophyll chuyển hóa năng lượng mặt trời, tổng hợp axit amin, hormone sinh trưởng và cố định chất nền nitơ cho hệ sinh vật.
    4. Nấm men: Tổng hợp vitamin, axit amin thiết yếu và enzym kích hoạt tế bào, thúc đẩy quá trình chuyển hóa chất hữu cơ và làm thức ăn bổ trợ cho vi khuẩn lactic và xạ khuẩn.
    5. Vi khuẩn Bacillus: Sinh tổng hợp protease và amylase phân giải protein, tinh bột thừa trong phân, cạnh tranh sinh học ức chế các chủng vi khuẩn gây hại như Vibrio.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thiết kế mô hình thực nghiệm: Xây dựng mô hình đệm lót sinh học sử dụng trấu kết hợp chế phẩm BIO-TMT tại 4 hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi gà:
    • Mô hình 1: Hộ cô Nguyễn Thị Nga (thôn Tân Thịnh) – Diện tích chuồng $20\text{ m}^2$, quy mô 50 con gà, sử dụng 2 kg cám ngô và trấu.
    • Mô hình 2: Hộ bác Hà Văn Minh (thôn Tân Thịnh) – Diện tích chuồng $10\text{ m}^2$, quy mô 50 con gà, sử dụng 1 kg cám ngô và trấu.
    • Mô hình 3: Hộ bác Phạm Văn Việt (thôn Tân Thịnh) – Diện tích chuồng $20\text{ m}^2$, quy mô 60 con gà, sử dụng 2 kg cám ngô và trấu.
    • Mô hình 4: Hộ bác Nguyễn Thị Lựa (thôn Tân Thượng) – Diện tích chuồng $30\text{ m}^2$, quy mô 100 con gà, sử dụng 3 kg cám ngô và trấu.
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm: Tiến hành lấy mẫu phân gà trước và sau khi xử lý bằng đệm lót tại 4 hộ mô hình, thực hiện phân tích tại Phòng Phân tích Hóa học – Viện Khoa học Sự sống (Đại học Thái Nguyên) theo các tiêu chuẩn:
    • Độ ẩm: Phân tích theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4326:2007.
    • Hàm lượng Nitơ tổng số: Phân tích theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4328:2007.
    • Hàm lượng Photpho tổng số: Phân tích theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 1525:2001.
    • Hàm lượng Kali tổng số: Phân tích theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8660:2011.
    • Mật độ vi khuẩn E. coli: Phân tích theo phương pháp nuôi cấy đếm khuẩn lạc của Quinn P.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu điều tra và thực hiện phỏng vấn trực tiếp 40 hộ chăn nuôi trên địa bàn xã Phúc Ứng (bao gồm 4 hộ tham gia mô hình và các hộ được lựa chọn ngẫu nhiên) để đánh giá nhận thức, hiệu quả kinh tế - kỹ thuật và mức độ tiếp nhận công nghệ.
  • Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ báo cáo định kỳ về tình hình kinh tế - xã hội của UBND xã Phúc Ứng năm 2014, các số liệu thống kê nông nghiệp và tài liệu khoa học về công nghệ vi sinh EM.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Tác giả nêu bật bối cảnh ngành nông nghiệp Việt Nam và những thách thức môi trường tại nông thôn do tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ. Nêu rõ tính cấp thiết của việc áp dụng giải pháp sinh học chi phí thấp để kiểm soát ô nhiễm chuồng nuôi gia cầm tại xã Phúc Ứng. Trình bày chi tiết mục đích, yêu cầu và ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của đề tài khóa luận.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất thải chăn nuôi và bản chất sinh hóa của chế phẩm BIO-TMT dựa trên công nghệ EM của GS. Teruo Higa. Phân tích chức năng sinh lý của 5 nhóm vi sinh vật cốt lõi (vi khuẩn Lactic, Xạ khuẩn, Vi khuẩn quang hợp, Nấm men, Vi khuẩn Bacillus). Tổng quan tình hình ứng dụng EM trên thế giới (Mỹ, Thái Lan, Nhật Bản, Belarus...) và tại Việt Nam (các nghiên cứu tại Bình Định, Thái Nguyên, Tuyên Quang) trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, xử lý mùi hôi và cải tạo đất.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định rõ đối tượng nghiên cứu là chất thải chăn nuôi gà và mô hình đệm lót sinh học tại xã Phúc Ứng trong thời gian từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014. Trình bày chi tiết 4 nội dung nghiên cứu chính cùng quy trình lấy mẫu, các tiêu chuẩn phân tích lý - hóa - sinh (TCVN 4326:2007, TCVN 4328:2007, TCVN 1525:2001, TCVN 8660:2011, Quinn P.) và phương pháp phỏng vấn 40 hộ dân.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ kết quả khảo sát thực địa và dữ liệu thực nghiệm:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội xã Phúc Ứng: Tổng diện tích tự nhiên 4.000 ha (đất nông nghiệp 1.583 ha, lâm nghiệp 1.279 ha, thủy sản 35 ha). Toàn xã có 2.224 hộ (1.860 hộ nông nghiệp) với 8.706 nhân khẩu thuộc 7 dân tộc anh em. Thu nhập bình quân đạt 14,5 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo 12,3%, cận nghèo 11,2%; xã đạt 6/19 tiêu chí nông thôn mới.
  • Hiện trạng chăn nuôi: Tổng đàn gia súc, gia cầm năm 2014 gồm 953 trâu, 62 bò, 2.320 lợn và 28.520 gia cầm. Các biện pháp xử lý hiện tại chủ yếu là hầm biogas (hộ nuôi lợn quy mô $\ge 10$ con) hoặc ủ phân truyền thống, trong khi chất thải chăn nuôi gà hầu như chưa được xử lý.
  • Quy trình kỹ thuật làm đệm lót BIO-TMT:
    • Giai đoạn 1 (Lên men chế phẩm): Trộn 100g cám gạo với 100g cám ngô, phun chế phẩm BIO-TMT đạt độ ẩm 30 - 40%, ủ kỵ khí kín ở nhiệt độ phòng 30 - 35°C trong 7 - 10 ngày cho đến khi sản phẩm có mùi thơm, vị ngọt. Sau đó sấy/phơi ở 35 - 40°C và đóng bao kín.
    • Giai đoạn 2 (Làm đệm lót chuồng): Rải trấu dày 7 - 10 cm trên toàn bộ nền chuồng. Sau khi thả gà và phân rải đều mặt chuồng, cào nhẹ bề mặt rồi rắc đều hỗn hợp men đã lên men, xoa đều bề mặt. Định kỳ 1 - 2 ngày cào xới một lần để duy trì độ tơi xốp và thông khí.
  • Đánh giá hiệu quả xử lý thực nghiệm:
    • Cảm quan: Mùi hôi thối ($NH_3$, $H_2S$, $SO_2$) giảm rõ rệt, chuồng nuôi thông thoáng, màu phân sáng hơn.
    • Độ ẩm phân: Giảm mạnh từ 76,21% xuống còn 34,09% nhờ nhiệt độ sinh ra từ quá trình lên men vi sinh làm bốc hơi nước.
    • Vi sinh vật gây bệnh: Mật độ E. coli giảm từ $9,6 \times 10^7\text{ CFU/g}$ xuống $2,1 \times 10^6\text{ CFU/g}$, hạn chế các bệnh tiêu chảy và hen suyễn ở gà.
    • Hàm lượng dinh dưỡng: Nitơ tổng số tăng từ 0,26% lên 0,41%; Photpho tổng số tăng từ 0,15% lên 1,57%; Kali tổng số tăng từ 0,21% lên 1,81%, tạo thành nguồn phân bón hữu cơ chất lượng cao.
  • Ý kiến người dân và giải pháp: Đa số người dân đánh giá cao khả năng giảm công dọn chuồng, giảm chi phí thuốc thú y và cải thiện môi trường không khí. Tác giả đề xuất các định hướng tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật và giải pháp nguồn nguyên liệu trấu, mùn cưa để nhân rộng mô hình.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khái quát các kết luận khoa học về hiệu quả xử lý chất thải của chế phẩm BIO-TMT và đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền địa phương, cơ quan khuyến nông trong việc phổ biến quy trình kỹ thuật cho các hộ chăn nuôi.


Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng từ thực nghiệm

Quá trình phân tích các chỉ tiêu lý, hóa, sinh học của phân gà trước và sau khi sử dụng đệm lót sinh học BIO-TMT ghi nhận những chuyển biến rõ rệt:

Chỉ tiêu phân tích Đơn vị tính Phương pháp / Tiêu chuẩn Trước xử lý Sau xử lý Mức độ thay đổi
Độ ẩm % TCVN 4326:2007 76,21 34,09 Giảm 42,12%
Mật độ vi khuẩn E. coli CFU/g Quinn P. $9,6 \times 10^7$ $2,1 \times 10^6$ Giảm hơn 45 lần
Tổng Nitơ (N) % TCVN 4328:2007 0,26 0,41 Tăng 0,15%
Tổng Photpho (P) % TCVN 1525:2001 0,15 1,57 Tăng 1,42%
Tổng Kali (K) % TCVN 8660:2011 0,21 1,81 Tăng 1,60%

Hiệu quả kỹ thuật và kinh tế - xã hội

  1. Xử lý môi trường chuồng nuôi: Quá trình phân giải sinh học giúp tiêu hủy phân liên tục, khử triệt để các khí độc sinh mùi hôi ($H_2S$, $SO_2$, $NH_3$), giảm mật độ ruồi muỗi và côn trùng gây hại. Nền chuồng duy trì độ ẩm thấp (34,09%), khô ráo, cải thiện môi trường lao động cho người chăn nuôi.
  2. Nâng cao sức khỏe đàn vật nuôi: Mật độ E. coli giảm mạnh giúp hạ thấp tỷ lệ mắc các bệnh tiêu chảy, hen khò khè, viêm khớp và thối bàn chân ở gà. Tỷ lệ chết và loại thải giảm (khoảng 5% đối với gà đẻ và 2% đối với gà thịt), từ đó tiết kiệm chi phí thuốc thú y.
  3. Giảm công lao động và tạo nguồn phân bón: Người nuôi không cần dọn chuồng thường xuyên trong suốt chu kỳ nuôi (đệm lót có thể sử dụng từ 6 tháng đến 1 năm). Phân sau khi phân giải có hàm lượng N, P, K tăng cao, có thể sử dụng trực tiếp làm phân bón hữu cơ cho cây trồng mà không cần qua công đoạn ủ hoai mục phức tạp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Quy mô thực nghiệm mới chỉ triển khai trên 4 hộ gia đình tại 2 thôn (Tân Thịnh và Tân Thượng) với diện tích từ $10\text{ m}^2$ đến $30\text{ m}^2$, chưa bao quát toàn bộ các điều kiện chuồng trại khác nhau trên địa bàn toàn xã.
    • Thời gian theo dõi thực nghiệm trong 5 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5/2014) chủ yếu rơi vào vụ Xuân - Hè, chưa phản ánh đầy đủ tác động của nền nhiệt đệm lót sinh thái trong những tháng cao điểm nắng nóng mùa hè.
    • Việc mở rộng mô hình đồng loạt có thể gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu trấu và mùn cưa không chứa tinh dầu, dễ đẩy giá thành nguyên liệu độn chuồng cục bộ tại địa phương lên cao.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật thông gió, làm mát chuồng nuôi nhằm kiểm soát hiện tượng tăng nhiệt của đệm lót trong mùa hè oi bức.
    • Đánh giá khả năng phối trộn các nguồn phế phẩm nông nghiệp sẵn có khác (rơm rạ băm nhỏ, vỏ đậu phụng, bã mía...) để thay thế một phần trấu và mùn cưa.
    • Mở rộng phạm vi thử nghiệm trên các quy mô chăn nuôi gia cầm bán công nghiệp và đàn thủy cầm tại các xã lân cận của huyện Sơn Dương.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên và học viên ngành Khoa học Môi trường, Nông nghiệp, Chăn nuôi: Khóa luận cung cấp một quy trình thực nghiệm rõ ràng về cách thức ứng dụng chế phẩm vi sinh hữu hiệu (EM/BIO-TMT) vào xử lý chất thải chăn nuôi quy mô nông hộ. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu lý - hóa - sinh theo hệ thống TCVN là tài liệu tham khảo chuẩn xác cho các nghiên cứu tương tự.
  • Đối với cán bộ khuyến nông và chính quyền địa phương: Cung cấp dữ liệu thực tế về hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, làm cơ sở xây dựng các mô hình trình diễn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật xử lý môi trường trong chương trình xây dựng nông thôn mới.
  • Đối với người chăn nuôi: Hướng dẫn chi tiết quy trình 2 giai đoạn (ủ men và vận hành đệm lót) dễ hiểu, dễ làm với chi phí thấp, giúp cải thiện trực tiếp điều kiện vệ sinh chuồng trại và nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm.

Câu hỏi thường gặp

1. Chế phẩm BIO-TMT sử dụng trong đề tài có nguồn gốc từ đâu và hoạt động theo nguyên lý nào?
Chế phẩm BIO-TMT do Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên pha chế dựa trên nguyên lý vi sinh vật hữu hiệu (EM). Cơ chế hoạt động dựa trên sự cộng sinh của 5 nhóm vi sinh vật (vi khuẩn Lactic, Xạ khuẩn, Vi khuẩn quang hợp, Nấm men và Vi khuẩn Bacillus) để phân giải nhanh protein, tinh bột, xenluloza trong phân và ức chế các vi khuẩn gây thối, giảm phát sinh khí độc.

2. Quy trình làm đệm lót sinh học bằng chế phẩm BIO-TMT gồm những bước chính nào?
Quy trình gồm 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Lên men chế phẩm (trộn 100g cám gạo + 100g cám ngô, phun chế phẩm BIO-TMT đến độ ẩm 30 - 40%, ủ kỵ khí kín ở 30 - 35°C trong 7 - 10 ngày rồi sấy khô nhẹ bảo quản).
  • Giai đoạn 2: Rải trấu dày 7 - 10 cm trên nền chuồng, thả gà đến khi phân rải đều thì cào xới nhẹ, rắc đều men đã ủ lên bề mặt; định kỳ 1 - 2 ngày cào đảo bề mặt một lần để giữ độ xốp.

3. Hiệu quả giảm độ ẩm và ức chế vi khuẩn E. coli trong phân gà đạt mức bao nhiêu?
Theo kết quả phân tích tại Viện Khoa học Sự sống: độ ẩm của phân gà giảm từ 76,21% trước xử lý xuống còn 34,09% sau xử lý; mật độ vi khuẩn E. coli giảm mạnh từ $9,6 \times 10^7\text{ CFU/g}$ xuống còn $2,1 \times 10^6\text{ CFU/g}$ (giảm hơn 45 lần).

4. Vì sao hàm lượng các chất dinh dưỡng N, P, K trong phân gà sau khi xử lý đệm lót lại tăng lên?
Hàm lượng N tăng từ 0,26% lên 0,41%, P tăng từ 0,15% lên 1,57%, K tăng từ 0,21% lên 1,81%. Sự gia tăng này là do hoạt động của hệ vi sinh vật trong đệm lót đã chuyển hóa các hợp chất hữu cơ khó tiêu thành dạng hòa tan dễ hấp thụ, cố định nitơ từ không khí và hòa tan photpho, đồng thời quá trình mất nước làm tăng nồng độ chất khô của các nguyên tố khoáng.

5. Đệm lót sinh học có thời gian sử dụng trong bao lâu và cần lưu ý gì khi vận hành?
Đệm lót có thể sử dụng liên tục từ 6 tháng đến 1 năm hoặc lâu hơn tùy thuộc vào độ nén và lượng phân. Khi vận hành cần lưu ý: định kỳ 1 - 2 ngày phải cào xới bề mặt một lần để đệm tơi xốp; đặt máng uống trên hành lang láng xi măng/gạch để tránh nước làm ướt đệm; mở cửa thông thoáng hoặc dùng quạt làm mát vào mùa nóng do đệm lót liên tục sinh nhiệt.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Duy Cường đã giải quyết thành công bài toán xử lý chất thải chăn nuôi gà quy mô nông hộ tại xã Phúc Ứng (Sơn Dương, Tuyên Quang) thông qua mô hình đệm lót sinh học BIO-TMT. Các kết quả thực nghiệm chứng minh mô hình giúp giảm độ ẩm phân xuống 34,09%, giảm mật độ E. coli hơn 45 lần, đồng thời làm tăng đáng kể hàm lượng dinh dưỡng N, P, K trong chất thải sau xử lý. Nghiên cứu mang tính thực tiễn cao, cung cấp quy trình kỹ thuật đơn giản, chi phí thấp, phù hợp để nhân rộng nhằm cải thiện môi trường nông thôn và phát triển chăn nuôi bền vững.