Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Thảo luận và khuyến nghị 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm cơ bản trong luận án 2. Nhà ở Henilane (2016) cho rằng nhà ở là một tòa nhà hoặc một phần của tòa nhà nơi một hộ gia đình có thể sống quanh năm và đáp ứng các yêu cầu nhất định, bao gồm cả địa chỉ cư trú. Nhà ở là một trong những thành phần quan trọng nhất của cuộc sống, mang lại nơi trú ẩn, sự an toàn và ấm áp, cũng như cung cấp một nơi để nghỉ ngơi.
Theo Melnikas (1998) nhà ở tương đối hạn chế về mặt vật lý và sinh học nhưng gần gũi về mặt xã hội, nơi mọi người và các nhóm người có thể sống cuộc sống cộng đồng bằng cách nhận các dịch vụ và tham gia các hoạt động tập thể khác. Hiện nay có nhiều khái niệm về nhà ở tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu. * Trên góc độ xây dựng: Nhà ở là sản phẩm của hoạt động xây dựng và không gian bên trong có tổ chức được ngăn cách với môi trường bên ngoài dùng để ở. * Trên góc độ quản lý kinh tế: Nhà ở là tài sản có giá trị đặc biệt đối với đời sống con người, là bộ phận quan trọng bảo vệ con người trước các hiện tượng tự nhiên.
Tra cứu trong từ điển Tiếng Việt thì “nhà” được hiểu trong nghĩa nhà ở là danh từ chỉ công trình xây dựng có mái, có tường vách được sử dụng làm chỗ ở, thường cùng với gia đình. Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì nhà ở được định nghĩa như sau: Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích sử dụng là để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình (Khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở 2014). Theo đó, khi phân loại theo loại hình thì nhà ở bao gồm: nhà ở riêng lẻ, nhà chung cư; nếu phân loại theo mục đích, đối tượng sử dụng thì nhà ở bao gồm: nhà ở thương mại, nhà ở công vụ, nhà ở để phục vụ tái định cư, nhà ở xã hội. Cụ thể: Nhà ở riêng lẻ (gồm: biệt thự, nhà ở liền kề, nhà ở độc lập) là nhà ở thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân, hộ gia đình, tổ chức được xây dựng trên diện tích đất độc lập, riêng biệt được ghi nhận có mục đích sử dụng là đất ở (đất thổ cư).
10 Nhà chung cư là nhà ở có cả phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung, có nhiều hơn một tầng, nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang và hệ thống hạ tầng sử dụng chung cho các hộ dân. Nhà chung cư được chia làm hai loại dựa vào mục đích sử dụng là để ở và sử dụng hỗn hợp cả để ở với mục đích kinh doanh, văn phòng. Nhà ở tái định cư Ở Việt Nam, nhà ở tái định cư được định nghĩa trong Luật Nhà ở năm 2014. Cụ thể, “Nhà ở để phục vụ tái định cư là nhà ở để bố trí cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện được tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở, bị giải tỏa nhà ở theo quy định của pháp luật” (Theo khoản 6 Điều 3 Luật Nhà ở 2014).
Nhà ở tái định cư bản chất là nhà do Nhà nước hoặc một chủ đầu tư thực hiện đầu tư xây dựng với mục đích phục vụ tái định cư cho các hộ dân thuộc diện bị giải phóng mặt bằng. Có hai hình thức nhà ở tái định cư là nhà ở riêng lẻ và căn hộ. Khách hàng sẽ có những lựa chọn khác nhau, phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình. Như vậy, nhà ở tái định cư là nhà ở được xây dựng để bố trí tái định cư cho người dân bị thu hồi đất nhằm ổn định cuộc sống.
Vì vậy, về mặt pháp lý người được cấp đất tái định cư là đất ở hoặc nhà ở tái định cư có đủ quyền sở hữu. Theo đó, có nhiều hình thức liên quan đến nhà ở tái định cư. Cụ thể, có phân định dựa trên một số tiêu chí sau đây: - Dựa vào hình thức tái định cư được phân ra thành 3 loại như sau: + Di dân vào vùng được đô thị hóa + Tái định cư tại chỗ khi áp dụng triển khai các dự án chỉnh trang khu dân cư + Chuyển dịch nội, ngoại thành - Dựa vào nguyện vọng của người dân: + Tái định cư tự phát: là việc mua bán, xây dựng trái phép không đúng theo quy định + Tái định cư tự giác: là việc tái định cư tại các dự án, người dân tự giác chấp hành có kế hoạch và phương thức tái định cư; ngay cả việc xây dựng chỗ ở mới tại các dự án phát triển nhà ở. + Cưỡng bức tái định cư - Dựa vào tính chất: 11 + Tái định cư bắt buộc + Tái định cư tự nguyện Trong luận án, nhà ở tái định cư được xác định là “Nhà ở của người dân được bàn giao đưa vào sử dụng, sau khi dự án xây dựng lại nhà chung cư cũ đã hoàn thành đi vào khai thác vận hành”.
Dự án xây dựng lại nhà chung cư cũ Nhà chung cư cũ trước hết là một nhà chung cư hoặc một khu chung cư, nhà chung cư hoặc khu chung cư được gọi là cũ khi nó không còn thỏa mãn những nhu cầu căn bản của cư dân hoặc chủ thể có quyền quản lý khu vực đó. Biểu hiện của sự xuống cấp của các công trình hạ tầng cơ sở, sự kém hiệu quả về sử dụng không gian, lạc hậu về mục đích sử dụng, không đảm bảo tính năng cơ bản hoặc xuống cấp về môi trường tự nhiên và xã hội mà không thể sửa chữa bằng các biện pháp cải tạo nhỏ. Theo mức độ, có thể phân chia 02 hình thức là cải tạo và xây dựng lại nhà chung cư. Trong đó, dự án cải tạo nhà chung cư cũ (có thể là một nhà chung cư hoặc một khu chung cư trong đô thị) là việc Nhà nước hoặc nhà đầu tư thực hiện việc cải tạo, sửa chữa lại các hư hỏng mà không đập đi xây mới nhà chung cư này vẫn tiếp tục còn có thể sử dụng được.
Đặc điểm của loại dự án này là dự án cải tạo, sửa chữa và nó ít ảnh hưởng đến việc tái định cư của người dân. Dự án xây dựng lại nhà chung cư cũ hoặc khu chung cư cũ là việc Nhà nước hoặc nhà đầu tư bỏ vốn thực hiện việc phá bỏ toàn bộ nhà chung cư hoặc khu chung cư để xây dựng các nhà chung cư mới. Theo quy định, trong mỗi khu vực có nhà chung cư cần cải tạo, xây dựng lại có thể thực hiện một hoặc nhiều dự án phù hợp với quy hoạch đô thị đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng đã được ban hành. Như vậy, khi cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư phải được triển khai xây dựng theo dự án, không tiến hành đơn lẻ từng nhà (trừ trường hợp là nhà chung cư độc lập).
Trường hợp thực hiện các dự án xây dựng lại nhà chung cư được áp dụng với “nhà chung cư bị hư hỏng nặng” và “nhà chung cư nguy hiểm”. Trong đó, “Nhà chung cư bị hư hỏng nặng, có nguy cơ sụp đổ, không còn bảo đảm an toàn cho người sử dụng (sau đây gọi chung là nhà chung cư bị hư hỏng nặng) là nhà chung cư đã hết niên hạn sử dụng theo quy định và không thể tiếp tục sử dụng, nhà chung cư đã bị lún, nứt, nghiêng và các hiện tượng bất thường khác theo tiêu chuẩn đánh giá mức độ nguy hiểm kết cấu nhà chung cư và kết luận kiểm định chất lượng của cơ quan có thẩm 12 quyền ban hành mà cần phải di dời, phá dỡ trong thời gian nhất định để bảo đảm an toàn cho người sử dụng”. Ngoài ra, Nhà nước phối hợp với nhà đầu tư thực hiện hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT). Theo đó, nhà đầu tư đảm nhận việc xây dựng lại nhà chung cư cũ tại vị trí khác hoặc trên diện tích đất cũ để phục vụ nhu cầu tái định cư cho những chủ sở hữu nhà chung cư thuộc diện phải phá dỡ để thực hiện xây dựng lại.
Luật Nhà ở năm 2014 quy định “Dự án đầu tư xây dựng nhà ở” là “tổng hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để xây dựng mới nhà ở, các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội phục vụ nhu cầu ở hoặc để cải tạo, sửa chữa nhà ở trên một địa điểm nhất định (Khoản 8 Điều 3 và Khoản 2 Điều 17). Theo đó, có thể khẳng định, dự án xây dựng lại nhà chung cư” là một trong các hình thức của dự án đầu tư xây dựng và do đó mang những đặc trưng cơ bản của dự án đầu tư xây dựng nhà ở. Từ phân tích trên, có thể hiểu, “dự án xây dựng lại nhà chung cư cũ” là “dự án phá dỡ toàn bộ nhà chung cư cũ và công trình hiện trạng (nếu có) để xây dựng lại nhà chung cư và công trình kiến trúc, hạ tầng theo quy hoạch do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt tại địa điểm hiện hữu”. Sự tham gia của người dân tại các dự án xây dựng lại nhà chung cư cũ Atkin và Skitmore (2008) cho rằng, sự thành công của dự án đầu tư xây dựng phụ thuộc vào việc đáp ứng các mong đợi và lợi ích của các bên liên quan trong suốt vòng đời của dự án.
Chính vì vậy, trong việc thực hiện các dự án xây dựng lại nhà chung cư cũ cần có sự tham gia của các bên liên quan. Theo đó, thông qua sự tham gia của các bên liên quan, các công trình xây dựng mới của dự án đầu tư sẽ được quy hoạch, thiết kế, xây dựng, vận hành một cách hợp lý để đáp ứng lợi ích của các bên khác nhau (Woltjer, 2009). Trong khoa học xã hội, sự tham gia của người dân được đề cập trong lý thuyết nền về nấc thang của sự tham gia do Arnstein (1969) đề xuất. Về sau, các nhà nghiên cứu đã vận dụng đưa ra cơ sở lý luận thông qua thực hành sự tham gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.