Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Biến đổi kinh tế, xã hội của cư dân vạn đò sông Hương tại các khu tái định cư trên địa bàn thành phố Huế" do nghiên cứu sinh Nguyễn Mạnh Hà thực hiện tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế; chuyên ngành Dân tộc học (mã số 931.10), bảo vệ năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Xuân Hồng và PGS. Vương Xuân Tình.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Cộng đồng cư dân vạn đò sông Hương có lịch sử cư trú lâu đời trên mặt nước từ thượng nguồn đến hạ nguồn và các nhánh sông tại thành phố Huế, tổ chức thành các vạn mang tính tự quản gắn kết về huyết thống, nghề nghiệp và tín ngưỡng. Đặc điểm chung của nhóm dân cư này là sở hữu ít tài sản, việc làm không ổn định, sinh đông con, hạn chế tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, thông tin và phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện tự nhiên của dòng sông.

Sau năm 1975, Nhà nước cùng Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và Ủy ban Nhân dân thành phố Huế đã triển khai các chủ trương quy hoạch, di dời, giải tỏa và tái định cư (TĐC) cư dân sống trên thuyền bè. Giai đoạn 1986–2010 ghi nhận các chương trình, dự án di dời toàn bộ cư dân vạn đò lên bờ nhằm mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, đồng thời chỉnh trang đô thị du lịch sinh thái và thích ứng biến đổi khí hậu. Thành phố Huế đã hình thành 4 khu TĐC tập trung: Trường An (năm 1989, nay là Phước Vĩnh), Kim Long (năm 1995), Bãi Dâu (năm 1998, thuộc phường Phú Hậu) và Hương Sơ (năm 2008).

Tuy nhiên, khi chuyển đổi sang môi trường sống trên cạn, cư dân đối mặt với tình trạng khó khăn trong tìm kiếm việc làm, đào tạo nghề kém hiệu quả, thất nghiệp phát sinh, vấn đề an ninh trật tự, nợ tiền nhà, chuyển nhượng đất hoặc nhà trái phép, thậm chí một số hộ quay trở lại thuyền sinh sống. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tìm hiểu đời sống văn hóa, phong tục hoặc y tế cộng đồng giai đoạn trước di dời, thiếu vắng công trình nghiên cứu chuyên khảo, có hệ thống và toàn diện về các chiều cạnh biến đổi kinh tế, xã hội của cộng đồng này tại các khu TĐC tập trung từ năm 1989 đến năm 2020. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này dưới góc độ dân tộc học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là tìm hiểu biến đổi kinh tế, xã hội của cư dân vạn đò sông Hương tại các khu TĐC, đánh giá toàn diện đời sống của cư dân trong quá trình TĐC và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay. Để hiện thực hóa mục tiêu, tác giả xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các khái niệm, lý thuyết nghiên cứu liên quan đến đề tài; đánh giá các kết quả nghiên cứu đi trước và xác định những vấn đề luận án tiếp tục thực hiện.
  2. Tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng kinh tế, xã hội của cư dân vạn đò sông Hương tại 4 khu TĐC tập trung trên địa bàn thành phố Huế.
  3. Phân tích, so sánh sự biến đổi kinh tế, xã hội của cư dân vạn đò sông Hương giữa giai đoạn trước và sau khi TĐC.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm phát triển bền vững kinh tế, xã hội cho cộng đồng cư dân sống trên sông Hương, ven biển, đầm phá đã TĐC tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự biến đổi kinh tế, xã hội của cư dân vạn đò sông Hương tại 4 khu TĐC tập trung. Về phương diện kinh tế, luận án tập trung khảo sát các loại hình kinh tế, cơ sở hạ tầng, điều kiện cư trú, thu nhập và mức sống. Về phương diện xã hội, luận án nghiên cứu các thiết chế xã hội truyền thống, quản lý hành chính nhà nước, giáo dục, y tế, an ninh trật tự và thực hành tôn giáo tín ngưỡng qua các thời kỳ lịch sử.
  • Phạm vi không gian: Tập trung tại 4 khu TĐC tập trung trên địa bàn thành phố Huế gồm Phước Vĩnh, Kim Long, Bãi Dâu (phường Phú Hậu) và Hương Sơ, trong mối liên hệ so sánh với không gian sông nước trước TĐC.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu tiến trình biến đổi trong giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây theo từng nhóm chủ đề và không gian địa lý cụ thể:

Các nghiên cứu quốc tế và khu vực Đông Nam Á

  • Nghiên cứu tại Trung Quốc: Lu Guang (2010) ghi nhận ô nhiễm nguồn nước và nguy cơ bệnh tật, ung thư của hơn 50 hộ làng chài trên sông Liu (tỉnh Giang Tô). Ying Yiang Yan (2017) nghiên cứu thực hành xã hội và kỹ thuật đóng thuyền của người Tanka trên sông Châu Giang (Quảng Đông), phân tích sự thay đổi không gian sống từ thuyền lên đất liền và khả năng thích ứng sinh kế gắn với việc duy trì văn hóa truyền thống. R.R. Worcester (1971) khảo sát ghe thuyền sông Dương Tử, chỉ ra quá trình đô thị hóa làm suy giảm các vạn đò và biến đổi cư dân lưỡng cư.
  • Nghiên cứu tại Nam Á và Đông Nam Á: Kathrine E. Starkweather (2017) khảo sát chiến lược gia đình và phân công lao động giới của người Shodagor sống trên thuyền tại Matlab (Bangladesh). Yugal Kishore Joshi, Cecilia Tortajada và Asit K. Biswas (2012) nghiên cứu kinh nghiệm cải tạo sông Singapore và lưu vực Kallang gắn liền với chính sách phát triển đô thị dài hạn. Chong Koh, Ben Mauk, Andrea Frazzetta (2018) và Glenn Althor cùng cộng sự (2018) phân tích tổn thương sinh kế, nghèo đói và rủi ro môi trường của cộng đồng làng nổi tại hồ Tonle Sap (Campuchia). Meidwinna Vania Michiani và Junichiro Asano (2019) nghiên cứu kế hoạch cải thiện hạ tầng và điều kiện sống cho cư dân ven sông tại Kuin Utara, Banjarmasin (Indonesia).

Nghiên cứu về vạn đò và làng chài tại Việt Nam

  • Khu vực ven biển: John D. Donoghue (1963) nghiên cứu tổ chức làng xã, gia đình, hôn nhân và nghề cá ở làng chài Cẩm An (miền Trung Việt Nam), có sự phản biện học thuật từ Gerald C. Hickey về quan hệ dòng họ. Lê Hải Đăng (2015), Đoàn Văn Thắng (2018), Nguyễn Thị Thúy Anh và Bùi Thúy Hằng (2019) nghiên cứu biến đổi văn hóa, sinh kế và đề xuất giải pháp phát triển du lịch tại làng chài Cửa Vạn (Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh) sau chính sách di dân lên bờ năm 2014. Hoàng Bá Thịnh (2007, 2009) khảo sát đời sống, sức khỏe sinh sản, tâm linh và quan hệ giới của cư dân đầm phá. Lê Duy Đại chủ biên (2013) khảo tả diện mạo văn hóa của cư dân mặt nước sông Hương và đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Bùi Xuân Đính và Nguyễn Thị Thanh Bình (2019) phân tích thách thức văn hóa xã hội của ngư dân ven biển từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa.
  • Khu vực dọc sông và nội đồng: Vũ Thị Hạnh (2014) khảo sát biến đổi lối sống của cư dân hai làng chài Ngọc Sơn và Nam Hải (Hải Phòng). Đào Phương Anh (2016) nghiên cứu hôn nhân người Công giáo ở làng chài xã Yên Nhân (Nam Định). Nguyễn Thị Tám (2016) phân tích cấu trúc sinh kế và sự chuyển đổi loại hình làng thủy cư dọc sông Lô thuộc Tuyên Quang và Phú Thọ. Lê Anh Tuấn và Trần Thị Kim Dung (2020) dùng mô hình hồi quy phân tích các yếu tố tác động đến việc làm của cư dân làng chài tại huyện Thiệu Hóa (Thanh Hóa).

Nghiên cứu về cư dân vạn đò sông Hương tại thành phố Huế

  • Tài liệu nước ngoài và văn bản tiếng Anh, Pháp: Lucien Bansard (1969) mô tả nguồn gốc nông nghiệp của cư dân vạn đò Thuận An và sông Hương. Henry Kamm (1971) và Della Denman (1972) ghi chép về bối cảnh sinh kế khó khăn thời chiến trên thời báo The New York Times. Nguyễn Phát (1991) miêu tả tình trạng bấp bênh của 10.000 dân ngụ cư sông Hương. Didier Bertrand (1993, 1996) nghiên cứu nguồn gốc di cư, tổ chức xã hội truyền thống, hiện tượng lên đồng và tín ngưỡng dân gian. G. Le Néel và L. Chambaud (1994) công bố dữ liệu y tế, nhân khẩu học của 143 hộ vạn đò Vỹ Dạ. Các nhóm nghiên cứu y tế công cộng của Nhật Bản và Việt Nam gồm Nguyễn Khắc Lương Quang, Takehito Takano, Keiko Nakamura, Masafumi Watanabe, Tomoko Inose, Yoshiharu Fukuda, Kaoruko Seino (2005, 2008) ứng dụng mô hình hồi quy logistic phân tích mối liên hệ giữa điều kiện kinh tế, nguồn nước sinh hoạt với bệnh truyền nhiễm và sự phát triển xương của trẻ em trên thuyền vạn đò. Emile Le Bris và Christian Taillard (1998), Ennebeck D. (2002), Nicolas (2002), Chéron Marie (2004) và Tôn Nữ Lưu Phương (2004) tiếp cận từ góc độ không gian đô thị, phân tích sự loại trừ xã hội và nguyên nhân chính sách định cư gặp trục trặc do thiếu chú trọng yếu tố sinh kế và văn hóa cư dân.
  • Tài liệu của tác giả trong nước: Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII), Phan Hoàng Quý (trước 1975), Văn Đình Triền (1992, 1993), Hoàng Bảo (2003), Nguyễn Duy Thiệu (2002) mô tả nguồn gốc, phương tiện cư trú và hoạt động kinh tế. Nguyễn Quang Trung Tiến (2001, 2011) làm rõ các đợt cải tổ hành chính liên quan đến tổng Võng Nhi và khu phố Phú An. Nguyễn Hữu Thông (1994), Đỗ Minh Khuê (1999), Huỳnh Đình Chiến (2001) cảnh báo về suy thoái môi trường nước và dịch bệnh tiêu hóa. Về giai đoạn sau TĐC, Lê Thị Nguyện (2007) sử dụng chỉ số HPI đo lường mức sống dân nghèo; Nguyễn Mạnh Hà (1999, 2010), Nguyễn Văn Mạnh (2011), Nguyễn Thị Thanh Mai (2012), Nguyễn Xuân Hồng (2012), Lê Thị Hương Nga (2013) và các khóa luận tốt nghiệp (Phạm Thị Cúc, Phạm Thị Phương Hảo, Phạm Thị Liễu, Châu Lê Xuân Thi, Nguyễn Ngọc Châu) bước đầu phản ánh khó khăn sinh kế tại các điểm định cư Phú Bình, Bãi Dâu, Kim Long và Hương Sơ.

Khoảng trống luận án giải quyết

Mặc dù số lượng tài liệu phản ánh đời sống vạn đò trước TĐC tương đối đa dạng, hầu hết dừng lại ở góc độ mô tả tản mạn về y tế, văn hóa dân gian hoặc quy hoạch đô thị. Luận án của Nguyễn Mạnh Hà là công trình chuyên khảo dân tộc học đầu tiên tiếp cận toàn diện và có hệ thống tiến trình biến đổi đồng thời cả hai phương diện kinh tế và xã hội của cộng đồng cư dân vạn đò sông Hương tại 4 khu TĐC tập trung trong suốt giai đoạn lịch sử từ 1989 đến 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

  1. Lý thuyết sinh thái văn hóa (Cultural ecology): Kế thừa quan điểm của Julian Steward (1949, 1972) về tiến hóa đa tuyến (multilineal evolution) và sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên, kết hợp cách tiếp cận của Andrew Vayda và Roy Rappaport về tác động tương hỗ giữa môi trường xã hội và môi trường sinh thái. Luận án vận dụng lý thuyết này để lý giải sự thay đổi phương thức sản xuất, nghề nghiệp và hành vi văn hóa khi cư dân chuyển đổi không gian sinh thái từ môi trường nước (sông Hương) sang môi trường đất liền tại các khu đô thị TĐC.
  2. Lý thuyết biến đổi và biến đổi văn hóa: Xem xét sự chuyển dịch cấu trúc xã hội, thiết chế tự quản và hệ giá trị tâm linh của cư dân dưới tác động của các chính sách quản lý hành chính và quá trình tiếp biến văn hóa với cư dân tại chỗ.
  3. Lý thuyết nghiên cứu phát triển và phát triển bền vững: Đánh giá sự cân bằng giữa phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao mức sống gắn liền với bảo đảm an sinh xã hội, giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường sống tại các vùng TĐC.
  4. Các khái niệm xác định trong văn bản:
    • Cư dân vạn đò: Cư dân lấy thuyền/đò làm phương tiện cư trú và đánh bắt thủy sản trên sông, vận chuyển tre nứa, khai thác cát sỏi, làm dịch vụ du lịch hoặc làm thuê.
    • Tái định cư: Hiện tượng kinh tế, xã hội mang tính quy luật gắn với phát triển; bao gồm hệ thống biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực về tài sản, sinh kế, nhà ở để phục hồi cuộc sống bằng hoặc tốt hơn trước khi di dời.
    • Biến đổi kinh tế: Sự vận động về cơ cấu ngành nghề (ngư nghiệp, khai thác vật liệu, dịch vụ bộ), điều kiện cư trú, hạ tầng kỹ thuật, thu nhập và mức sống.
    • Biến đổi xã hội: Quá trình thay đổi cấu trúc thiết chế quản lý, quan hệ dòng họ gia đình, trình độ giáo dục, y tế, an ninh trật tự và tín ngưỡng tôn giáo.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong khuôn khổ tiếp cận dân tộc học và liên ngành:

  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Tác giả tiến hành quan sát tham dự, ghi chép đời sống thường nhật, chụp ảnh, quay phim sinh hoạt kinh tế, văn hóa và lễ nghi tôn giáo của cộng đồng cư dân tại 4 khu TĐC.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp các chủ hộ gia đình, người cao tuổi am hiểu phong tục, các thầy cúng thực hành nghi lễ; kết hợp phỏng vấn cán bộ lãnh đạo, chuyên viên các phòng ban trực thuộc UBND thành phố Huế, UBND các phường, ban quản lý chung cư và tổ trưởng tổ dân phố.
  • Phương pháp điều tra xã hội học (định lượng mô tả): Xây dựng bảng hỏi và tiến hành khảo sát trực tiếp 160 hộ gia đình cư dân vạn đò tại 4 khu TĐC (thực hiện trong giai đoạn 2017–2020) để thu thập dữ liệu về nghề nghiệp, thu nhập, chi tiêu, tiện nghi sinh hoạt và mức độ tiếp cận các dịch vụ công cộng đô thị.
  • Phương pháp thu thập, xử lý tư liệu thành văn: Khai thác tư liệu cổ (Đại Nam Nhất thống chí, Phủ biên tạp lục, Ô châu cận lục, Đồng Khánh địa dư chí); các quyết định, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo hành chính, số liệu thống kê qua các năm của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, UBND thành phố Huế và các phường sở tại.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và nghiên cứu liên ngành: So sánh đối chiếu số liệu định tính và định lượng; ứng dụng kiến thức của xã hội học, kinh tế học, địa lý đô thị và nhân học văn hóa.

Địa bàn nghiên cứu

Địa bàn khảo sát thực tế gồm 4 khu TĐC đại diện cho các mốc thời gian và hình thức cư trú khác nhau:

  • Khu TĐC Phước Vĩnh: Hình thành năm 1989 (nguyên là khu quy hoạch Đông Nam Thủy Trường - Trường An), nằm ở bờ Nam sông Hương, địa hình đồi cao; tiếp nhận 148 hộ vạn đò đầu tiên theo hình thức cấp đất tự làm nhà.
  • Khu TĐC Kim Long: Thành lập năm 1995, diện tích 9,2 ha dọc bờ sông Kẻ Vạn (bờ Bắc), chia làm 4 đợt tiếp nhận; có thiết kế bến neo đậu thuyền để phục vụ cư dân duy trì nghề sông nước; hình thức cấp đất làm nhà.
  • Khu TĐC Bãi Dâu (phường Phú Hậu): Xây dựng từ năm 1998 ở hạ lưu sông Hương, tiếp nhận cư dân qua 2 đợt (đợt 1 năm 2000–2001 nhận 115 hộ; đợt 2 năm 2008–2009 nhận 208 hộ); hình thức cư trú gồm nhà chung cư và đất liền kề; gần chợ đầu mối nông sản Phú Hậu.
  • Khu TĐC Hương Sơ: Xây dựng năm 2008 trên diện tích 8,355 ha đất ruộng nguyên trạng ở phía Đông Bắc thành phố, quy hoạch 336 lô đất và 224 căn nhà liền kề; ban đầu tiếp nhận 168 hộ và đến năm 2011 tiếp nhận thêm 345 hộ (1.814 nhân khẩu) di dời từ sông Hương, Thượng Thành và sông Ngự Hà.
Tên khu TĐC Năm thành lập Vị trí địa lý tại TP. Huế Hình thức nhà ở Đặc điểm không gian và sinh kế tiếp cận
Phước Vĩnh 1989 Bờ Nam sông Hương, địa hình cao ráo Cấp đất tự xây nhà Xa bến nước; gần chợ Trường An; chuyển đổi hoàn toàn sang lao động bộ
Kim Long 1995 Bờ Bắc sông Hương, ven sông Kẻ Vạn (9,2 ha) Cấp đất tự xây nhà Có bến neo đậu thuyền; duy trì một phần nghề cát sỏi, thuyền du lịch và đánh cá
Bãi Dâu 1998 Đông Bắc TP. Huế, hạ lưu sông Hương Nhà chung cư và nhà liền kề Gần sông Hương và chợ đầu mối nông sản Phú Hậu; thuận lợi buôn bán nhỏ, lao động tự do
Hương Sơ 2008 Phía Đông Bắc TP. Huế, nguyên là đất nông nghiệp Căn hộ liền kề và phân lô đất ở Xa hẳn sông nước; quy mô tiếp nhận lớn nhất; hạ tầng hoàn chỉnh nhưng việc làm khó khăn

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, phương pháp và địa bàn nghiên cứu

Chương 1 tổng thuật chi tiết tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến cư dân thủy diện, làng chài và TĐC đô thị. Tác giả xác lập khung lý thuyết dựa trên sinh thái văn hóa, biến đổi xã hội và phát triển bền vững; định nghĩa rõ các khái niệm công cụ và trình bày quy trình thao tác hóa phương pháp nghiên cứu thực địa. Chương này khảo tả đặc điểm địa lý, hạ tầng kỹ thuật, thiết chế tôn giáo và điều kiện dân sinh của 4 khu TĐC (Phước Vĩnh, Kim Long, Bãi Dâu, Hương Sơ). Kết quả khảo sát sơ bộ giai đoạn 2017–2020 phản ánh thực trạng: mật độ dân số tăng nhanh, tỷ lệ thất nghiệp hoặc thiếu việc làm chiếm từ 20% đến 30%, tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp và hiện tượng chuyển nhượng đất/nhà diễn ra phổ biến (tại khu TĐC Phước Vĩnh có khoảng 80% hộ đã bán đất hoặc nhà; khu Bãi Dâu có 8 hộ bán căn hộ chung cư).

Chương 2: Chính sách và quá trình thực hiện tái định cư cư dân vạn đò sông Hương

Chương 2 phục dựng bối cảnh hình thành và diễn biến số lượng cư dân vạn đò dọc chiều dài lịch sử. Về nguồn gốc, tư liệu lịch sử xác nhận cư dân vạn đò là nhóm dân cư nông nghiệp di cư từ phía Bắc (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị) qua đường biển và đường bộ vào định cư ven biển, đầm phá rồi ngược dòng sông Hương tụ cư từ thế kỷ XVI–XVII. Dưới triều Nguyễn, nhà nước quản lý cư dân thông qua tổng Võng Nhi thuộc huyện Hương Thủy (gồm 16 thôn ấp, giáp, mạn sinh sống hoàn toàn trên mặt nước). Trước năm 1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý 11 vạn đò tại thị xã Huế và lập khu phố Phú An. Sau năm 1975, khu phố Phú An tiếp tục quản lý đến khi giải thể năm 1979 để chuyển giao về các phường hành chính.

Số lượng dân số vạn đò biến động mạnh qua các giai đoạn do các đợt đi kinh tế mới không thành công khiến cư dân quay trở lại thuyền. Thống kê của chính quyền thị xã Huế trước 1975 cho thấy cư dân vạn đò chiếm tỷ trọng đáng kể trong dân số đô thị:

Năm Dân số thị xã Huế (người) Dân số các vạn đò (người) Tỷ lệ dân số vạn đò (%)
1970 170.134 18.234 10,7
1971 177.348 20.301 11,4
1972 182.261 24.312 13,3

Sau năm 1975, số lượng hộ vạn đò biến thiên phức tạp: năm 1979 quản lý 335 hộ với 3.250 nhân khẩu; năm 1992 tăng lên 1.436 hộ (gồm 1.300 hộ có hộ khẩu và 136 hộ không có hộ khẩu, tổng cộng 8.048 nhân khẩu); năm 1993 ghi nhận 1.549 hộ; năm 1994 có 1.498 hộ; đến tháng 9/2006 Phòng Kinh tế thành phố Huế thống kê có 1.070 hộ với 6.000 cư dân. Đến năm 2007, dự án do Luxembourg tài trợ ghi nhận 1.008 hộ. Chương 2 phân tích hệ thống chính sách của Chính phủ, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và UBND thành phố Huế qua từng giai đoạn, khẳng định quyết tâm giải tỏa toàn bộ thuyền đò nhằm mục tiêu an sinh xã hội và chỉnh trang đô thị du lịch sinh thái.

Chương 3: Biến đổi kinh tế của cư dân vạn đò sông Hương tại các khu tái định cư

Chương 3 so sánh thực trạng kinh tế trước và sau khi lên cạn. Trước TĐC, cơ sở hạ tầng của cư dân gắn liền với chiếc thuyền chật hẹp, vừa là phương tiện kiếm sống vừa là nơi ăn ở của nhiều thế hệ, thiếu nước sạch và điện, xả thải trực tiếp xuống lòng sông. Các hoạt động kinh tế truyền thống gồm đánh bắt thủy sản (dùng lưới quét, rà điện, giăng câu), khai thác cát sỏi lòng sông, vận chuyển tre nứa, chèo thuyền du lịch và nuôi cá lồng.

Sau khi TĐC, điều kiện cư trú thay đổi cơ bản khi người dân được sống trong nhà kiên cố, tiếp cận mạng lưới điện quốc gia, nước máy đô thị và dịch vụ thu gom rác. Về ngành nghề, các nghề gắn với sông nước suy giảm rõ rệt hoặc biến mất (nghề khai thác cát sỏi bị cấm hoàn toàn hoặc chuyển sang làm thuê; ngư nghiệp thu hẹp do xa bến đỗ; dịch vụ thuyền du lịch chịu sự quản lý ngặt nghèo của ngành văn hóa - du lịch). Cư dân buộc phải chuyển đổi sang các ngành nghề mới trên đất liền: thợ xây, phụ hồ, đổ bê tông, chạy xích lô, xe thồ, bốc vác, buôn bán nhỏ tại chợ hoặc bán hàng rong. Cơ cấu lao động dịch chuyển sang các việc làm phổ thông, thu nhập bấp bênh theo mùa vụ. Chi phí sinh hoạt gia đình tăng cao đột biến (tiền điện, tiền nước, rác thải, học phí, chi phí mua thực phẩm hàng ngày) tạo áp lực kinh tế nặng nề, làm tăng nguy cơ nợ nần và hạn chế khả năng tích lũy tài chính.

Chương 4: Biến đổi xã hội của cư dân vạn đò sông Hương tại các khu tái định cư

Chương 4 phân tích sự chuyển đổi từ thiết chế quản lý vạn truyền thống sang hệ thống quản lý hành chính đô thị. Trước TĐC, vạn trưởng và ban điều hành vạn duy trì trật tự cộng đồng dựa trên lệ làng sông nước và luật tục bất thành văn. Sau TĐC, cộng đồng hòa nhập vào cơ cấu tổ chức tổ dân phố, các đoàn thể chính trị - xã hội (Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên).

Về gia đình và dòng họ, quy mô gia đình lớn nhiều thế hệ cùng sinh sống trên thuyền dần phân rã thành các hộ gia đình hạt nhân độc lập do diện tích nhà ở tại khu TĐC cố định; các mối quan hệ họ hàng phân tán do sống xen cư với các nhóm dân cư khác. Tỷ lệ học sinh đến trường tại các khu TĐC tăng lên đáng kể, thế hệ trẻ được phổ cập mầm non, tiểu học và trung học cơ sở, xóa bỏ tình trạng mù chữ phổ biến thời kỳ sông nước. Công tác tiêm chủng, chăm sóc y tế và vệ sinh phòng dịch được nâng cao thông qua hệ thống trạm y tế phường. Tuy nhiên, tình hình an ninh trật tự tại các khu TĐC nảy sinh nhiều điểm nóng: tình trạng thanh niên thất nghiệp tụ tập đánh nhau, cờ bạc, nghiện ma túy và vi phạm pháp luật. Về đời sống tâm linh, các hình thức thờ cúng mẹ nước (Thủy Long Hà Bá, Bà Cậu) có sự biến chuyển; một bộ phận cư dân chuyển sang đạo Phật, vai trò của các thầy cúng truyền thống dần suy giảm trong đời sống thường nhật.

Chương 5: Một số vấn đề đặt ra trong biến đổi kinh tế, xã hội tại các khu tái định cư của cư dân vạn đò sông Hương

Chương 5 đúc kết các bài học kinh nghiệm và đánh giá tổng thể tiến trình TĐC:

  • Nguyên nhân biến đổi: Bắt nguồn từ sự thay đổi môi trường sinh thái cư trú (từ sông nước lên mặt đất), tác động từ các chính sách quy hoạch đô thị của nhà nước và áp lực hội nhập nếp sống văn minh đô thị.
  • Thành tựu: Cải thiện triệt để điều kiện nhà ở, hạ tầng kỹ thuật; chấm dứt tình trạng trôi nổi hiểm nguy trong mùa mưa bão; nâng cao tỷ lệ tiếp cận giáo dục, y tế và dịch vụ công.
  • Hạn chế: Công tác quy hoạch xây dựng hạ tầng một số khu TĐC còn bất cập; đào tạo nghề mang tính hình thức, không phù hợp với trình độ học vấn thấp của cư dân dẫn đến thất nghiệp kéo dài; quản lý nhân khẩu lỏng lẻo dẫn đến tình trạng bán đất, nợ tiền cơ sở hạ tầng; các xung đột xã hội giữa cư dân mới và dân địa phương tại chỗ.
  • Tác động đến thành phố Huế: Giải tỏa mặt nước làm sạch cảnh quan môi trường sông Hương, phục vụ phát triển du lịch di sản; nhưng đồng thời tạo áp lực lớn lên hệ thống an sinh xã hội, giải quyết việc làm và duy trì trật tự đô thị.
  • Nhóm giải pháp phát triển bền vững: Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể: (1) Hoàn thiện quy hoạch xây dựng và quản lý hành chính cộng đồng; (2) Chuyển đổi việc làm, đào tạo nghề thực chất gắn với thị trường lao động, hỗ trợ vay vốn tín dụng chính sách; (3) Nâng cao chất lượng giáo dục, dạy nghề và y tế học đường; (4) Bảo tồn và chuyển hóa các giá trị văn hóa truyền thống gắn với du lịch cộng đồng; (5) Đảm bảo an ninh trật tự và bảo vệ môi trường khu dân cư.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học

  1. Dưới góc độ dân tộc học và nhân học sinh thái, luận án góp phần xác định và làm rõ đặc trưng của loại hình cư trú thủy cư và bán thủy cư của người Việt tại lưu vực sông Hương trong tiến trình lịch sử, phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa môi trường sông nước với kỹ thuật khai thác tự nhiên, cấu trúc xã hội vạn và hệ thống tín ngưỡng dân gian.
  2. Luận án làm sáng tỏ quy luật thích ứng và biến đổi văn hóa của một nhóm cư dân chuyên biệt khi chuyển dịch môi trường sinh thái từ sông nước lên đất liền, cung cấp luận cứ dân tộc học về sự tái cấu trúc thiết chế xã hội và sinh kế dưới tác động của các chính sách phát triển đô thị.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Phản ánh chân thực thực trạng đời sống kinh tế, mức sống, việc làm và các rủi ro xã hội phát sinh tại 4 khu TĐC tập trung trên địa bàn thành phố Huế trong suốt hơn 30 năm (1989–2020), làm sáng tỏ các mặt được và chưa được của các dự án TĐC dân nghèo đô thị.
  2. Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế, thành phố Huế và các địa phương có cư dân sông nước, đầm phá xây dựng, điều chỉnh chính sách an sinh xã hội, đào tạo nghề và quản lý dân cư theo hướng phát triển bền vững.
  3. Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, đào tạo đại học và sau đại học các chuyên ngành Dân tộc học, Nhân học, Xã hội học, Quản lý văn hóa và Địa lý đô thị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Căn cứ vào phạm vi và đối tượng nghiên cứu được công bố trong văn bản, luận án chỉ tập trung khảo sát 160 hộ gia đình tại 4 khu TĐC tập trung trên địa bàn thành phố Huế, chưa bao quát được toàn bộ số lượng cư dân vạn đò di dời phân tán về các vùng ven biển, vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai hoặc các huyện lân cận (Hương Thủy, Phú Vang, Hương Trà, Nam Đông, A Lưới).
  • Do sự thiếu thống nhất và biến động lớn về số liệu thống kê dân số vạn đò trong các báo cáo hành chính lịch sử của chính quyền các cấp (giai đoạn 1975–2006), việc đối chiếu hồi cố chính xác quy mô nhân khẩu từng vạn gặp những giới hạn nhất định.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh tiến trình biến đổi kinh tế, xã hội của cư dân thủy diện vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và ven biển miền Trung sau khi lên cạn định cư.
  • Đi sâu nghiên cứu sự thích ứng xã hội và chuyển dịch thế hệ (thế hệ thứ hai, thứ ba sinh ra trên cạn) của cộng đồng cựu cư dân vạn đò trong bối cảnh thành phố Huế mở rộng địa giới hành chính và xây dựng đô thị trực thuộc Trung ương.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp dữ liệu thực chứng cho UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, UBND thành phố Huế và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc xây dựng các đề án sinh kế chuyển đổi, hỗ trợ đào tạo nghề thực chất và giải quyết nợ tiền sử dụng đất tại các khu tái định cư đô thị.
  • Các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Là nguồn tài liệu chi tiết về phương pháp điền dã kết hợp định tính - định lượng trong nghiên cứu biến đổi xã hội của các nhóm cư dân yếu thế; khung lý thuyết sinh thái văn hóa ứng dụng trong nghiên cứu đô thị hóa.
  • Giảng viên và cơ sở giáo dục đại học: Dùng làm tài liệu tham khảo giảng dạy trong các học phần Dân tộc học Việt Nam, Nhân học kinh tế, Nhân học sinh thái, Xã hội học đô thị và Quản lý văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát thực địa tại những khu tái định cư nào và hình thức cư trú tại mỗi khu có điểm gì khác biệt?

Tác giả khảo sát 4 khu TĐC tập trung tại thành phố Huế với các hình thức nhà ở khác nhau: Khu TĐC Phước Vĩnh (thành lập 1989, cấp đất tự làm nhà trên vùng đồi phía bờ Nam); Khu TĐC Kim Long (thành lập 1995, cấp đất tự làm nhà dọc sông Kẻ Vạn, có bến neo đậu thuyền); Khu TĐC Bãi Dâu (thành lập 1998, hình thức căn hộ chung cư và nhà liền kề); và Khu TĐC Hương Sơ (thành lập 2008, gồm nhà liền kề và lô đất phân lô trên khu vực đất nông nghiệp).

2. Nguồn gốc lịch sử của cộng đồng cư dân vạn đò sông Hương được luận án ghi nhận như thế nào?

Luận án chỉ ra cư dân vạn đò sông Hương có nguồn gốc từ các cuộc di dân nông nghiệp phía Bắc (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị) di chuyển theo đường biển và đường bộ vào Thuận Hóa từ thế kỷ XVI–XVII. Do khó khăn kinh tế và chiến tranh, họ xuống sống trên mặt nước làm nghề chài lưới ở cửa biển, đầm phá, sau đó ngược dòng sông Hương tụ cư lập thành các vạn đò chuyên nghiệp từ thế kỷ XIX–XX.

3. Tỷ trọng dân số cư dân vạn đò so với dân số thị xã Huế trong giai đoạn 1970–1972 chiếm tỷ lệ bao nhiêu?

Dựa trên tài liệu thống kê của Phan Hoàng Quý được luận án trích dẫn tại Bảng 2.1, tỷ lệ dân số vạn đò sông Hương luôn chiếm từ 10% đến hơn 13% tổng dân số thị xã Huế: năm 1970 chiếm 10,7% (18.234/170.134 người); năm 1971 chiếm 11,4% (20.301/177.348 người); năm 1972 chiếm 13,3% (24.312/182.261 người).

4. Cơ cấu nghề nghiệp của cư dân vạn đò biến đổi cụ thể ra sao sau khi chuyển lên các khu tái định cư?

Các nghề sông nước truyền thống (đánh bắt cá, khai thác cát sỏi, vận chuyển tre nứa) bị thu hẹp mạnh hoặc chấm dứt hoàn toàn do xa bến nước và chính sách cấm khai thác cát sỏi. Cư dân chuyển dịch chủ yếu sang các nghề lao động phổ thông không ổn định trên đất liền như thợ nề, thợ phụ hồ, đổ bê tông, chạy xe thồ, xích lô, bốc vác, làm thuê hoặc buôn bán nhỏ tại các chợ dân sinh.

5. Tình trạng chuyển nhượng nhà đất và nợ nần tại các khu tái định cư diễn ra ở mức độ nào theo số liệu điều tra?

Tại khu TĐC Phước Vĩnh, có khoảng 80% hộ gia đình đã bán đất hoặc nhà sau khi nhận; tình trạng này cũng diễn ra phổ biến tại khu TĐC Kim Long. Tại khu chung cư TĐC Bãi Dâu, có 8 hộ gia đình đã tự ý chuyển nhượng căn hộ; nhiều hộ tại các khu TĐC rơi vào cảnh nợ tiền xây dựng nhà ở kéo dài không có khả năng chi trả, một số hộ cá biệt quay trở lại sinh sống trên đò.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Dân tộc học của Nguyễn Mạnh Hà đã phản ánh toàn diện, có hệ thống tiến trình biến đổi kinh tế và xã hội của cộng đồng cư dân vạn đò sông Hương khi chuyển dịch từ môi trường thủy cư lên các khu tái định cư trên đất liền tại thành phố Huế giai đoạn 1989–2020. Dưới lăng kính sinh thái văn hóa và phát triển bền vững, công trình làm rõ những cải thiện căn bản về điều kiện nhà ở, giáo dục, y tế công cộng, đồng thời chỉ ra những thách thức lớn về sinh kế bấp bênh, thất nghiệp, nợ nần và xáo trộn thiết chế văn hóa truyền thống. Các nhóm giải pháp do luận án đề xuất mang giá trị thực tiễn đối với công tác an sinh xã hội, quản lý đô thị và bảo tồn bản sắc văn hóa cho cư dân thủy diện tái định cư tại Thừa Thiên Huế.