Nghiên Cứu Biến Đổi Kinh Tế Xã Hội Của Cư Dân Vạn Đò Sông Hương Tại Các Khu Tái Định Cư Ở Huế

Luận án tiến sĩ nghiên cứu dân tộc học biến đổi kinh tế xã hội của cư dân vạn đò sông hương tại các khu tái định cư trên địa, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Dân tộc học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

203
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Biến đổi xã hội

Biến đổi xã hội của cư dân Vạn Đò Sông Hương tại các khu tái định cư là một quá trình phức tạp, phản ánh sự thích ứng với môi trường sống mới. Trước tái định cư, cộng đồng này sống tập trung trên sông, với các mối quan hệ xã hội chặt chẽ dựa trên huyết thống và nghề nghiệp. Sau khi chuyển lên bờ, các thiết chế xã hội truyền thống như tổ chức dòng họ, tín ngưỡng, và quản lý cộng đồng đã có sự thay đổi đáng kể. Các khu tái định cư như Phước Vĩnh, Kim Long, Bãi Dâu, và Hương Sơ đã tạo ra một môi trường sống mới, nơi cư dân phải hòa nhập với các quy định quản lý nhà nước và các dịch vụ đô thị. Sự biến đổi này không chỉ ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức xã hội mà còn tác động đến đời sống văn hóa, tôn giáo, và các mối quan hệ cộng đồng.

1.1. Tổ chức xã hội truyền thống

Trước tái định cư, cư dân Vạn Đò Sông Hương sống trong các cộng đồng nhỏ, tự quản, với các mối quan hệ xã hội chặt chẽ dựa trên huyết thống và nghề nghiệp. Các dòng họ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự và quản lý cộng đồng. Tuy nhiên, sau khi chuyển lên bờ, các tổ chức xã hội truyền thống này đã dần bị thay thế bởi các cơ chế quản lý nhà nước. Các khu tái định cư đã tạo ra một môi trường sống mới, nơi cư dân phải tuân thủ các quy định của chính quyền địa phương, dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức và quản lý cộng đồng.

1.2. Tôn giáo và tín ngưỡng

Tôn giáo và tín ngưỡng là một phần không thể thiếu trong đời sống của cư dân Vạn Đò Sông Hương. Trước tái định cư, các nghi lễ và lễ hội truyền thống được tổ chức thường xuyên, gắn liền với đời sống sông nước. Sau khi chuyển lên bờ, các hoạt động tôn giáo và tín ngưỡng đã có sự thay đổi, do điều kiện sống và môi trường mới. Một số nghi lễ truyền thống đã bị mai một, trong khi các hình thức tôn giáo mới được du nhập và phát triển. Sự biến đổi này phản ánh quá trình hội nhập và thích ứng của cộng đồng với môi trường sống mới.

II. Kinh tế Huế

Kinh tế Huế đã có sự thay đổi đáng kể sau khi cư dân Vạn Đò Sông Hương được tái định cư lên bờ. Trước đây, cộng đồng này chủ yếu dựa vào các hoạt động kinh tế truyền thống như đánh bắt cá, khai thác cát, sỏi, và vận chuyển hàng hóa trên sông. Tuy nhiên, sau khi chuyển lên bờ, các hoạt động kinh tế này đã bị hạn chế, dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu nghề nghiệp và thu nhập của cư dân. Các khu tái định cư đã tạo ra cơ hội việc làm mới, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc đào tạo nghề và ổn định thu nhập cho cư dân.

2.1. Hoạt động kinh tế truyền thống

Trước tái định cư, cư dân Vạn Đò Sông Hương chủ yếu dựa vào các hoạt động kinh tế truyền thống như đánh bắt cá, khai thác cát, sỏi, và vận chuyển hàng hóa trên sông. Các hoạt động này không chỉ là nguồn thu nhập chính mà còn là một phần quan trọng trong văn hóa và lối sống của cộng đồng. Tuy nhiên, sau khi chuyển lên bờ, các hoạt động kinh tế truyền thống này đã bị hạn chế, do sự thay đổi môi trường sống và các quy định quản lý của chính quyền địa phương.

2.2. Cơ hội và thách thức trong phát triển kinh tế

Sau tái định cư, cư dân Vạn Đò Sông Hương đã có cơ hội tiếp cận với các ngành nghề mới, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức trong việc đào tạo nghề và ổn định thu nhập. Các khu tái định cư đã tạo ra cơ hội việc làm trong các lĩnh vực như xây dựng, dịch vụ, và du lịch. Tuy nhiên, do thiếu kỹ năng và kinh nghiệm, nhiều cư dân gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm ổn định. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ tài chính để giúp cư dân thích ứng với môi trường kinh tế mới.

III. Đời sống cư dân

Đời sống cư dân tại các khu tái định cư đã có sự cải thiện đáng kể về cơ sở hạ tầng và dịch vụ đô thị. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc đảm bảo chất lượng cuộc sống, đặc biệt là trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, và an ninh trật tự. Các khu tái định cư đã cung cấp các điều kiện sống tốt hơn so với trước đây, nhưng cư dân vẫn phải đối mặt với các vấn đề như thiếu việc làm, nợ tiền nhà, và sự thay đổi trong các mối quan hệ cộng đồng.

3.1. Cơ sở hạ tầng và dịch vụ đô thị

Các khu tái định cư đã cung cấp các điều kiện sống tốt hơn cho cư dân Vạn Đò Sông Hương, với hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại và các dịch vụ đô thị như điện, nước, và giao thông. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc đảm bảo chất lượng cuộc sống, đặc biệt là trong các lĩnh vực y tế và giáo dục. Các dịch vụ y tế và giáo dục tại các khu tái định cư vẫn còn hạn chế, dẫn đến sự bất bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ này.

3.2. An ninh trật tự và môi trường sống

An ninh trật tự và môi trường sống là những vấn đề quan trọng tại các khu tái định cư. Mặc dù các khu tái định cư đã cung cấp một môi trường sống an toàn hơn so với trước đây, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề về an ninh trật tự, đặc biệt là trong các khu vực có mật độ dân số cao. Ngoài ra, môi trường sống tại các khu tái định cư cũng đang đối mặt với các vấn đề như ô nhiễm và thiếu không gian xanh, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của cư dân.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ dân tộc học biến đổi kinh tế xã hội của cư dân vạn đò sông hương tại các khu tái định cư trên địa bàn thành phố huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu biến đổi kinh tế, xã hội cư dân sông nước trên thế giới và ở Việt Nam Nghiên cứu về cư dân vạn đò/làng chài trên thế giới cũng như khu vực Đông Nam Á và Việt Nam dưới góc độ kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục và giới được các tác giả trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Các nghiên cứu trên thế giới và khu vực Đông Nam Á Tại trung Quốc, tác giả Lu Guang (2010) trong bài báo “Câu chuyện làng Chài tỉnh Giang Tô, Trung Quốc: Làm chứng cho chi phí của con người về ô nhiễm nguồn nước” đề cập đời sống của hơn 50 hộ gia đình trên sông tại tỉnh Giang Tô, Trung Quốc: Họ là những cư dân đánh cá, ăn, ngủ trên thuyền.

Cuộc sống cư dân làng chài xấu đi do các nhà máy xuất hiện dọc theo sông Liu, tỉnh Giang Tô. Cuộc sống cư dân bị ảnh hưởng do nguồn thủy hải sản cạn kiệt, dòng sông ô nhiễm bởi các nhà máy công nghiệp xả thải trực tiếp; số lượng cư dân bị ung thư cao hơn nhiều so với trước đây. Bài báo cảnh báo nguy cơ gây ung thư ở bộ phận cư dân này [130]. Tác giả Ying Yiang Yan (2017) trong luận văn Thạc sỹ Khảo cổ học - Nhân học, tại Đại học Southampton về “Technical Choice and Social Practice of Sampan Boats: A Case Study of Tanka Sampan and the Dweller in Ethnoarchaeology” [Lựa chọn kỹ thuật và thực hành xã hội của cư dân vạn đò: Nghiên cứu trường hợp cư dân Tanka từ góc độ dân tộc - khảo cổ học] đã đi sâu nghiên cứu nhóm cư dân đặc thù - người Tanka sống trên sông Châu Giang (Pearl river) - ở khu vực Quảng Đông, Trung Quốc.

Cư dân Tanka đã thay đổi không gian sống trên sông chuyển lên đất liền: Từ thuyền/nhà thuyền chuyển thành nhà trên bờ. Việc định cư/tái định cư gần cửa sông nhằm mục đích quan trọng là phục hồi thuyền và các lễ hội của cư dân. Nghiên cứu đã chỉ ra sự thích ứng sinh kế khi thay đổi môi trường sống là những cơ hội cư dân Tanka tiếp tục sinh kế và duy trì văn hóa khi định cư2 [112]. Tại Bangladesh, tác giả Kathrine E.

Starkweather (2017) trong bài viết “Shodagor Family Strategies Balancing Work and Family on the Water” [Các chiến 2 Tác giả đã dẫn nghiên cứu của R.R Worcester, Du thuyền và thuyền tam bản trên sông Dương Tử (Junks and sampans of the Yangtze, 1971) cho rằng: Vấn đề xây dựng đô thị đã gây ra sự biến mất của rất nhiều thuyền cũng như các vạn đò. Đời sống kinh tế của cư dân chủ yếu là đánh bắt cá và trồng trọt trên đất liền (làm thuê cho các chủ đất để kiếm sống). Nhiều nhà nghiên cứu gọi họ là cư dân lưỡng cư. Nghề nghiệp của họ còn có một bộ phận chuyên vận chuyển hành khách và hàng hóa.

Cùng với thời gian họ từ biển đi dần vào đường thủy nội địa để làm ăn [112, tr. 6 lược về gia đình của người Shodagor để đảm bảo cân bằng giữa công việc và gia đình trong điều kiện thủy cư] đề cập đến người Shodagor ở Matlab, Bangladesh. Họ là cộng đồng cư dân sống trên thuyền. Người Shodagor đối mặt các vấn đề như: lao động, sinh sản và chăm sóc trẻ em.

Ở góc độ giới, người phụ nữ làm việc theo chồng, ngoài ra họ còn tham gia các nhiệm vụ khác nhau trong gia đình và ít chăm sóc con cái hơn so với người chồng. Nghiên cứu cho rằng đây là một hành vi bất thường về văn hóa khi phụ nữ ít có điều kiện quan tâm và chăm sóc con của họ so với đàn ông trong cộng đồng [108]. Tại khu vực Đông Nam Á, cũng có nhiều nghiên cứu liên quan. Các tác giả Yugal Kishore Joshi, Cecilia Tortajada và Asit K.

Hoạt động làm sạch sông Singapore và lưu vực Kallang tại Singapore được thực hiện song song với quá trình phát triển đô thị. Kinh nghiệm của Singapore là ví dụ tuyệt vời trong thực hiện các chính sách phát triển đô thị. Đó là tầm nhìn rõ ràng, kế hoạch dài hạn, chiến lược hướng tới tương lai; điều cần thiết đặt nền móng cho sự phát triển bền vững. Trong đó, nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện môi trường, phát triển đô thị bền vững là mục tiêu quan trọng nhất [132].

Cùng chủ đề nghiên cứu về cư dân sống trên các làng nổi ở khu vực Đông Nam Á mà Camphuchia là điểm nhấn, tác giả Chong Koh, Ben Mauk và nhiếp ảnh gia Andrea Frazzetta (2018) tìm hiểu hàng chục ngàn gia đình hộ gia đình trên sông và hồ Tonle Sáp ở Campuchia trên tờ New York Times: “A People Limbo, Manyliving Entirely on the Water” [Người Limbo, cư dân chủ yếu sống trên mặt nước] và Glenn Althor với các cộng sự (2018) trong bài viết “Large-Scale Environmental Degradation Results in Inequitable Impacts to Already Impoverished Communities: A Case Study from the Floating Villages of Cambodia” [Suy thoái môi trường quy mô lớn dẫn đến tác động bất bình đẳng với những cộng đồng nghèo: Nghiên cứu trường hợp ở các làng thuyền tại Campuchia]. Cả hai bài viết đã nêu lên những rủi ro cư dân thường gặp: bão lũ, bệnh tật, đuối nước ở trẻ em và những khó khăn trong tương lai của cộng đồng cư dân (trong đó có những ngư dân quốc tịch Việt Nam)…Sinh kế chủ yếu của cư dân là đánh cá đã bị tác động do các dự án thủy điện và thay đổi khí hậu. Cư dân “có rất ít năng lực, cơ hội hay phương tiện” để thích nghi với những sự kiện, chính sách thay đổi; thủy sản suy giảm và gia tăng dân số… và thiếu năng lực thích ứng về sinh kế làm cho cư dân dễ bị tổn thương hơn. Đây là những thách thức, khó khăn cho tương lai phát triển bền vững của cộng đồng cư dân này [128; 107].

7 Tại Indonesia, tác giả Meidwinna Vania Michiani và Junichiro Asano (2019) trong bài viết “Physical upgrading plan for slum riverside settlement in traditional area: A case study in Kuin Utara, Banjarmasin, Indonesia” [Kế hoạch nâng cấp cơ sở vật chất cho khu định cư ổ chuột ở ven sông trong khu vực cư trú truyền thống: Nghiên cứu trường hợp tại Kuin Utara, Banjarmasin, Indonesia], mặc dù không đề cập nhiều đến cư dân sống trên thuyền, nhưng cộng đồng sống trên sông, dọc sông/dựa vào dòng sông đã thích nghi đời sống vật chất, xã hội. Mẫu số chung cộng đồng cư dân TĐC gặp khó khăn là: sinh kế, tình trạng nhà ở, hệ thống giao thông nội bộ, nguồn cung cấp nước sạch, thiết bị vệ sinh và quản lý chất thải xuống dòng sông. Nghiên cứu này chỉ ra rằng: sự tham gia của người dân và chính quyền địa phương trong quản lý nguồn tài nguyên; nâng cao nhận thức và thái độ về môi trường là điều quan trọng khi thực hiện các dự án đối với các khu ổ chuột ven sông [113]. Những nghiên cứu trên thế giới và khu vực Đông Nam Á về cộng đồng cư dân sống trên thuyền đều gắn liền quá trình phát triển đô thị, công nghiệp hoá và TĐC; bên cạnh đó là những cảnh báo y tế, sinh kế thay đổi và văn hoá của cộng đồng trong bối cảnh thay đổi điều kiện sống, chính sách của chính quyền địa phương.

Các công trình nêu trên đã đánh giá tương đối đầy đủ thực trạng đời sống kinh tế và xã hội của cư dân; trong đó luôn đề cao vai trò của chủ thể văn hoá - cư dân sông nước trong quá trình hội nhập và phát triển. Nghiên cứu vạn đò/làng chài ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu vạn đò/làng chài ở Việt Nam từ năm 1985 trở về trước còn rất ít, nội dung tập trung tìm hiểu sinh kế, văn hoá cư dân làng chài ven biển. Có rất ít công trình nghiên cứu về cư dân vạn đò/làng chài sống dọc sông hay nội đồng. + Những công trình tìm hiểu về cư dân làng chài ven biển: Từ những năm 1960 của thế kỷ XX, các nhà nhân học Mỹ đã tiến hành các nghiên cứu về các làng chài ở Việt Nam.Donoghue với công trình “Cam An: A fishing village in central Vietnam” [Cẩm An: Một làng chài ở miền Trung Việt Nam] (1963, tái bản năm 1987) có cách nhìn về đời sống ngư dân Cẩm An bởi các quan hệ tổ chức làng xã - trị an, nghề cá và làng chài, hôn nhân, gia đình, tín ngưỡng, lễ nghi và tương lai của làng chài miền Trung Việt Nam [103].

Khi nhận xét công trình này, Gerald C. Hickey - trường Đại học Wayne (Mỹ) không đồng ý với các phân tích họ hàng và chức năng trong hôn nhân “của các dòng dõi đích thực”, các thuật ngữ chỉ người thân, quan hệ họ hàng, dòng họ mà John D. Donoghue đã trình bày. Mặc dù có những tranh luận nhưng tác giả đã khắc họa những điểm cơ bản trong đời sống ngư dân làng chài ven biển miền Trung.

Trong nghiên cứu cư dân làng chài ở Hạ Long, các tác giả Lê Hải Đăng (2015) “Quan hệ gia đình, dòng họ và hoạt động đi biển của cư dân thuỷ diện ở Quảng Ninh”, 8 Đoàn Văn Thắng (2018) “Nhận diện cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long qua vài nét phác thảo”, và Nguyễn Thị Thúy Anh - Bùi Thúy Hằng (2019) “Giải pháp phát triển du lịch ở làng chài Cửa Vạn, Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh sau hoạt động di dân lên bờ” đã tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển, đặc điểm cư trú và dân cư, tổ chức chính trị - xã hội truyền thống, thực hành tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động kinh tế truyền thống, ô nhiễm môi trường Cửa Vạn do nhiều nguyên nhân, trong đó có gia tăng dân số, rác thải…Quá trình định cư cư dân (tháng 6/2014) đã tác động/thay đổi thực hành tín ngưỡng, văn hoá truyền thống và sinh kế truyền thống trong quá trình hội nhập, phát triển cộng đồng. Đồng thời, các tác giả đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá, phát triển du lịch ở làng chài Cửa Vạn trên vịnh Hạ Long sau khi định cư trên đất liền là những hướng tiếp cận bảo đảm phát triển bền vững kinh tế - xã hội cộng đồng cư dân [8; 20; 65].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Biến Đổi Kinh Tế Xã Hội Của Cư Dân Vạn Đò Sông Hương Tại Huế" khám phá những thay đổi trong đời sống kinh tế và xã hội của cư dân tại khu vực Vạn Đò bên dòng Sông Hương. Tác phẩm này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tác động đến sự phát triển của cộng đồng mà còn nêu bật những thách thức và cơ hội mà cư dân đang đối mặt. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức mà các chính sách phát triển có thể ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người dân, từ đó giúp họ hiểu rõ hơn về bối cảnh kinh tế xã hội hiện tại.

Để mở rộng kiến thức về các chính sách phát triển bền vững và quản lý kinh tế, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn xã thạnh mỹ tây huyện châu phú tỉnh an giang, nơi trình bày các giải pháp giảm nghèo hiệu quả. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ hcmute đánh giá hiệu quả áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại tỉnh an giang sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của các công cụ kinh tế trong việc quản lý môi trường. Cuối cùng, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp towards sustainable electronic commerce development in vietnam reality and policy recommendations sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về phát triển thương mại điện tử bền vững tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế xã hội.