CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và khái niệm: 1. Định nghĩa tử vong phụ nữ 15-49 tuổi: Số phụ nữ từ 15-49 tuổi tử vong vì bất kỳ lý do gì, kể cả những nguyên nhân liên quan đến mang thai và sinh đẻ. Định nghĩa tử vong mẹ: Là tử vong của phụ nữ trong thời gian mang thai hoặc trong vòng 42 ngày sau khi kết thúc thai nghén, do bất cứ nguyên nhân nào liên quan đến thai nghén hoặc bệnh lý bị nặng lên do mang thai hoặc sinh đẻ gây ra mà không phải do tai nạn hoặc tự tử.
Phân lọai tử vong mẹ: Nguyên nhân tử vong mẹ được chia làm 2 nhóm: 1. Nguyên nhân tử vong mẹ trực tiếp: Chết do tai biến sản khoa hoặc do can thiệp thủ thuật, sai sót trong chẩn đoán, điều trị và biến chứng của các nguyên nhân trên. Các nguyên nhân tử vong mẹ trực tiếp bao gồm:Các tai biến sản khoa: vỡ tử cung, băng huyết do sẩy thai hay sau đẻ, chửa ngoài tử cung vỡ, nhiễm khuẩn sau đẻ, sản giật. Các can thiệp: mổ đẻ, gây mê gây tê để mổ đẻ hay làm thủ thuật, vỡ tử cung sau forceps, nội xoay hay do đẩy bụng hoặc vì dùng thuốc co tử cung.
Do bỏ sót: chảy máu trong do chửa ngoài tử cung vỡ, rách sâu trong âm đạo khi đẻ gây băng huyết nhưng không phát hiện được. Những trường hợp chẩn đoán hay điều trị sai: Đặt forceps gây rách rộng đường sinh dục vì chẩn đoán sai độ lọt, dùng thuốc tăng co trong trường hợp bất tương xứng thai-chậu dẫn đến vỡ tử cung. Nguyên nhân tử vong mẹ gián tiếp: Chết do các bệnh có trước hoặc trong khi mang thai làm bệnh nặng lên do ảnh hưởng của thai nghén. 5 Để hiểu rõ thế nào là tử vong mẹ, loại trừ những tử vong không phải tử vong mẹ, ta phân biệt hai loại nguyên nhân: trực tiếp và gián tiếp.
Các nguyên nhân tử vong mẹ gián tiếp bao gồm: Các bệnh có từ trước, trong khi mang thai: suy tim do hẹp hở hai lá, thiếu máu nặng, lao phổi, sốt rét, HIV/AIDS, tiểu đường, viêm thận bể thận, thương hàn, sốt rét ác tính, sưng phổi, viêm gan, viêm não mắc phải trong lúc có thai. Chậm trễ dẫn đến tử vong mẹ và các yếu tố ảnh hưởng: Các yếu tố ảnh hưởng: 3 yếu tố chậm trễ là: Chậm phát hiện và quyết định tìm đến y tế. Chậm tiếp cận dịch vụ y tế. Chậm chăm sóc và điều trị.
Góp phần dẫn đến tử vong mẹ thường gặp ở các nước đang phát triển. Biết rõ các yếu tố chậm trễ này và tìm các biện pháp hạn chế tác động của các yếu tố đó sẽ góp phần quan trọng giảm thiểu tử vong mẹ. Tình hình tử vong mẹ trên thế giới và Việt Nam: 1. Tình hình tử vong mẹ trên thế giới: 1.
TVM giảm, nhưng không đồng đều giữa các khu vực và các nhóm Số liệu cho thấy tình hình tử vong mẹ trên thế giới có giảm, nhưng quá chậm để có thể đạt được Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDG) số 5, mục tiêu nhằm cải thiện sức khỏe các bà mẹ và tránh cho họ khỏi các nguy cơ tử vong trong thời kỳ mang thai và sinh con. Theo Tổ c hứ c Y t ế Thế gi ớ i ( WHO), mục tiêu thứ năm trong số những mục tiêu thiên niên kỷ (MDG 5) là cải thiện sức khỏe bà mẹ bằng cách giảm 75% tỷ số TVM từ năm 1990 đến 2015, nghĩa là phải giảm 5,5% mỗi năm. Tuy nhiên thực tế cho thấy trên thế giới chỉ giảm 2,3% tỷ số TVM từ năm 1990 đến 2008 [32]. Số liệu cho thấy việc giảm TVM không đồng đều giữa các khu vực, vùng miền và nhóm đối tượng.
6 TVM còn rất cao ở các nước đang phát triển, có điều kiện kinh tế khó khăn. Trong năm 2008, ước tính có khoảng 358.000 trường hợp TVM xảy ra trên toàn thế giới. Mặc dù đã giảm nhiều so với năm 1990, nhưng vẫn còn 99% (355.000) trường hợp TVM xảy ra ở các nước đang phát triển. Hạ Sahara Châu phi và Nam Á chiếm 87% (313.000) trường hợp TVM trên toàn thế giới.
Trong số các vùng đang phát triển, vùng Hạ Sahara Châu Phi có tỷ số TVM trung bình cao nhất là 640/100.000SSS, theo sau là vùng Nam Á (280), vùng Châu Đại Dương (230), Đông Nam Á (160), Bắc Phi (92), Châu Mỹ La Tinh và Caribê (85), Tây Á (68), Đông Á (41). Ước tính trên thế giới có 45 nước có tỷ số TVM (MMR) cao (MMR>=330), trong đó có 4 nước có tỷ số TVM rất cao (MMR>=1000) đó là Afghanistan, Chad, Guinea-Bissau, và Somalia. Ngoài vùng Hạ Sahara Châu Phi, có 7 quốc gia có tỷ số TVM khá cao là: Afghanistan (1. Trong giai đoạn từ 1990-2008, có 147 quốc gia có tỷ số TVM giảm, trong đó có 90 quốc gia giảm trên 40%.
Hai quốc gia không thay đổi, và có 23 quốc gia có tỷ số TVM gia tăng [32]. Nguy cơ tử vong mẹ (Lifetime risk of maternal death) chỉ báo nguy cơ tử vong mà một phụ nữ gặp phải trong mỗi kỳ thai nghén. Năm 2008, chỉ số này ước tính cao nhất ở vùng Hạ Sahara Châu Phi (1/31), kế đến là vùng Châu Đại Dương (1/110), và Nam Á (1/120), trong khi trong vùng các quốc gia phát triển thì có nơi có chỉ số nguy cơ TVM rất thấp (1/4. Trong số 172 quốc gia và lãnh thổ, Afghanistan có chỉ số nguy cơ TVM cao nhất là 1/11.
Tại các vùng có mức sinh cao, ví dụ như Hạ Sahara Châu Phi, phụ nữ phải đối mặt với nguy cơ tử vong nhiều lần trong đời. Theo WHO, căn cứ số liệu của năm 2005, tính trung bình, nguy cơ tử vong do những biến chứng trong lúc mang thai và sinh đẻ trong đời người phụ nữ ở các nước có thu nhập thấp như Hạ Sahara Châu Phi cao gấp hơn 300 lần so với phụ nữ ở các nước công nghiệp hóa, không có tỷ lệ tử vong nào lại chênh lệch lớn như vậy. Hơn nữa, hàng triệu phụ nữ nếu sống sót sau 7 khi sinh nở thì cũng bị thương tổn, nhiễm trùng, bệnh tật và khuyết tật xuất phát từ việc mang thai, và thường để lại hậu quả suốt đời. Một nghiên cứu gần đây của Denise Grady, đăng trong tạp chí The Lancet ngày 13/4/2010 về tình hình tử vong mẹ của 181 quốc gia trên toàn thế giới cho thấy số trường hợp tử vong mẹ đã giảm từ 526 300 năm 1980 xuống còn 342.
Trong suốt thời gian từ 1990-2008, tỷ số tử vong mẹ giảm không đồng đều ở các nước. Một số nước kém phát triển có sự thay đổi về TVM trái ngược nhau như Maldives có tỷ số TVM giảm 8,8% mỗi năm từ năm 1990 – 2008, trong khi đó ở Zimbavee tăng 5,5% (nguyên nhân là do tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ mang thai ở nước này rất cao), vùng Hạ Sahara Châu Phi có tỷ số TVM cao nhất. Trong năm 2008 có hơn 50% trường hợp tử vong mẹ trên toàn cầu xảy ra ở 6 nước là: Ấn độ, Nigeria, Pakistan, Afghanistan, Ethopia, và nước cộng hòa dân chủ Congo. Một nghiên cứu mới đây cho thấy Ấn Độ có tỷ số TVM đã giảm nhiều từ 408-1.000 SSS năm 2008; Trung Quốc giảm từ 144- 187/100.
Theo trang thông tin truyền thông của WHO cập nhật tháng 11 năm 2016 về tử vong mẹ ghi nhận: Tử vong ở bà mẹ là không thể chấp nhận được. Khoảng 830 phụ nữ chết vì các biến chứng liên quan đến thai nghén hoặc sinh nở trên khắp thế giới mỗi ngày. Người ta ước tính vào năm 2015, khoảng 303 000 phụ nữ đã chết trong và sau khi sinh và thai. Hầu như tất cả những người chết xảy ra ở những nơi có nguồn tài nguyên thấp, và hầu hết những nguyên nhân này đều có thể bị ngăn chặn.
Tại Châu Phi vùng hạ Sahara, một số quốc gia đã giảm một nửa mức tử vong mẹ từ năm 1990. Tại các khu vực khác, bao gồm châu Á và Bắc Phi, thậm chí còn có nhiều tiến bộ hơn. Từ năm 1990 đến năm 2015, tỷ lệ tử vong mẹ toàn cầu (số ca tử vong mẹ trên 100 000 trẻ sinh ra sống) chỉ giảm 2,3% mỗi năm giữa năm 1990 và năm 2015. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong ở mẹ gia tăng nhanh hơn từ năm 2000 trở đi.
Ở một số nước, tỷ lệ tử vong mẹ trong năm 2000-2010 đã vượt quá 5,5%. 8 Số ca tử vong mẹ ở một số khu vực trên thế giới phản ánh sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, và làm nổi bật khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Hầu hết các ca tử vong mẹ (99%) đều xảy ra ở các nước đang phát triển. Hơn một nửa số ca tử vong này xảy ra ở Châu Phi hạ Sahara và gần 1/3 ở Nam Á.
Tỷ lệ tử vong bà mẹ ở các nước đang phát triển vào năm 2015 là 239 trên 100.000 trẻ sinh ra sống so với 12 ở 100.000 trẻ sinh ra sống ở các nước phát triển. Có sự chênh lệch lớn giữa các quốc gia, nhưng cũng ở trong nước, giữa phụ nữ có thu nhập cao và thấp và phụ nữ sống ở nông thôn so với khu vực thành thị. Nguy cơ tử vong mẹ cao nhất ở trẻ vị thành niên dưới 15 tuổi và các biến chứng trong thai kỳ và sinh đẻ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ vị thành niên ở các nước đang phát triển. Phụ nữ ở các nước đang phát triển có trung bình nhiều phụ nữ mang thai nhiều hơn phụ nữ ở các nước phát triển và nguy cơ tử vong vì mang thai cao hơn.
Nguy cơ tử vong của người phụ nữ trong suốt cuộc đời của người mẹ - xác suất một phụ nữ 15 tuổi cuối cùng sẽ tử vong do nguyên nhân ở mẹ - là 1 trong 4900 ở các nước phát triển, trong khi ở các nước đang phát triển là 1 ở 180. Ở các nước được chỉ định là các quốc gia dễ bị tổn thương, nguy cơ là 1 trong 54; Thể hiện những hậu quả từ sự kém chất lượng trong hệ thống y tế. Phụ nữ chết do các biến chứng trong và sau khi mang thai và sinh đẻ. Hầu hết các biến chứng này xảy ra trong thai kỳ và hầu hết đều có thể phòng ngừa hoặc điều trị được.
Các biến chứng khác có thể tồn tại trước khi mang thai nhưng trầm trọng hơn khi mang thai, đặc biệt nếu không được quản lý như một phần của sự chăm sóc của người phụ nữ.