ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây tại Việt Nam nói chung và các tỉnh thành trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng, phụ nữ đã có nhu cầu làm đẹp khi kinh tế phát triển. Do đó, nhằm thỏa mãn nhu cầu này, số lƣợng các cơ sở chăm sóc da với quy mô vừa và nhỏ tại Thành phố Cần Thơ (TPCT) đã gia tăng đáng kể. Theo số liệu thống kê, từ năm 2010 với số lƣợng đăng ký kinh doanh là 25 cơ sở đến hết năm 2014 đã tăng vọt với số lƣợng 107 cơ sở [34, 35]. Cùng với sự phát triển ngành nghề chăm sóc da, những mối nguy hại tiềm ẩn đe dọa đến sức khỏe da của phụ nữ xuất hiện từ các phƣơng pháp làm đẹp đơn giản, rẻ tiền, dễ thực hiện, phổ biến tại các cơ sở nhỏ và vừa nhƣ: phun, xăm lông mày, môi v.
Do dùng các mũi kim nhỏ đâm xuyên trực tiếp vào da nên phun, xăm môi vẫn là tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây hại cho sức khỏe, đặc biệt nếu thực hiện tại các cơ sở thẩm mỹ thiếu chuyên môn, nghiệp vụ trong kiểm soát nhiễm khuẩn. Có thể liệt kê một số yếu tố nguy cơ mà phụ nữ có thể gặp phải khi thực hiện thủ thuật làm đẹp đơn giản này: Nhiễm trùng tại chỗ xăm: Sƣng, tấy đỏ kéo dài, chảy máu, nổi mụn, môi bị nung mủ là những hậu quả khó lƣờng sau khi xăm môi, bên cạnh biểu hiện hay gặp nhƣ sƣng tấy phù nề [25]. Lây các bệnh truyền nhiễm: Nếu không tiệt khuẩn đúng cách, vật dụng, máy móc dùng trong quá trình phun, xăm có thể là nguyên nhân lây truyền các bệnh nguy hiểm nhƣ giang mai, HIV, viêm gan B,C, bệnh Herpes v. Nhất là khi thực hiện tại các cơ sở nhỏ, nhân viên chăm sóc không hiểu tầm quan trọng của việc khử khuẩn hoặc cơ sở không có điều kiện khử khuẩn; dụng cụ, hóa chất khử khuẩn không đầy đủ.
Khả năng có thể lây bệnh từ các dụng cụ nhƣ kim, ngòi xăm, và đặc biệt là chất dịch màu xăm, nơi mà tác nhân gây bệnh chủ yếu khu trú ở đó do các khách hàng dùng chung với nhau [25]. 2 Nguyên nhân của tất cả những rủi ro nhiễm khuẩn trong dịch vụ chăm sóc da thẩm mỹ là khả năng kiểm soát nhiễm khuẩn của các nhân viên chăm sóc da có giới hạn. Họ không đƣợc coi là nhân viên y tế và dĩ nhiên họ không chịu sự quản lý về nghiệp vụ chuyên môn của các cơ sở quản lý ngành y tế địa phƣơng. Có thể nói ngành y tế chúng ta đã lãng quên một nguồn nhân lực không nhỏ trực tiếp hàng ngày chăm sóc sức khỏe da (healthy skin care) cho phụ nữ, phục vụ một đối tƣợng chiếm gần phần lớn dân số tại địa phƣơng và cũng quên đi vai trò hỗ trợ đào tạo chuyên môn về kiểm soát nhiễm khuẩn, đảm bảo an toàn trong chăm sóc sức khỏe da [25].
Hiện nay, chƣa có nghiên cứu nào đánh giá mức độ kiến thức và thực hành về kiểm soát nhiễm khuẩn của nhân viên chăm sóc da tại TPCT nói riêng và Việt Nam nói chung. Các yếu tố nào ảnh hƣởng đến kiến thức và thực hành về kiểm soát nhiễm khuẩn của nhân viên chăm sóc da? Kiến thức thực sự có tác động đến thực hành của nhân viên chăm sóc da hay không? Kết quả của nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi trên đồng thời cũng là chứng cứ giúp nhà quản lý y tế tại địa phƣơng tham khảo trong thiết kế chƣơng trình đào tạo kiểm soát nhiễm khuẩn dựa trên năng lực nhằm khắc phục những khiếm khuyết đã đƣợc phát hiện. Chính vì thế chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Thực trạng kiến thức và thực hành về kiểm soát nhiễm khuẩn trong chăm sóc da và một số yếu tố liên quan tại các cơ sở chăm sóc da thẩm mỹ thành phố Cần Thơ, năm 2015”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1) Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về kiểm soát nhiễm khuẩn của nhân viên tại các cơ sở chăm sóc da thẩm mỹ thành phố Cần Thơ, năm 2015.
2) Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của nhân viên về kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở chăm sóc da thẩm mỹ thành phố Cần Thơ, năm 2015. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và định nghĩa 1. Khái niệm vệ sinh tay Vệ sinh tay (VST) là làm sạch tay bằng nƣớc với xà phòng thƣờng hoặc xà phòng khử khuẩn và chà sát tay với dung dịch có chứa cồn.
VST là nội dung cơ bản của phòng ngừa chuẩn và là biện pháp hiệu quả nhất trong kiểm soát lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở khám chữa bệnh. Cơ sở khám chữa bệnh phải đảm bảo có nƣớc sạch, có đủ các phƣơng tiện VST và có sẵn các dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn ở những nơi thăm khám, chăm sóc ngƣời bệnh [29]. Khái niệm về khử khuẩn Là quá trình loại bỏ hầu hết hoặc tất cả vi sinh vật gây bệnh trên dụng cụ nhƣng không diệt bào tử vi khuẩn. Trong bệnh viện, khử khuẩn thƣờng đƣợc thực hiện bằng cách ngâm dụng cụ vào trong dung dịch hóa chất hoặc bằng phƣơng pháp Pasteur.
Trong thực hành, rất nhiều yếu tố có thể làm mất hoặc làm hạn chế hiệu lực khử khuẩn, ví dụ các dụng cụ không đƣợc làm sạch hoặc còn dính các chất hữu cơ; mức độ ô nhiễm vi sinh vật; nồng độ của chất khử khuẩn; thời gian dụng cụ tiếp xúc với chất khử khuẩn; đặc tính của dụng cụ (khe kẽ, khớp nối, lòng ống); nhiệt độ và pH của môi trƣờng khử khuẩn [29]. Khái niệm và phân loại rác thải lây nhiễm Chất thải gây lây nhiễm gồm: băng gạc bẩn, bông, đồ băng bó, quần áo, găng tay, gạc, tất cả các vật tƣ hay thiết bị tiếp xúc với máu và chất thải của ngƣời bệnh. - Chất thải lây nhiễm sắc nhọn (loại A) bao gồm: Bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lƣỡi dao mổ, đinh mổ, cƣa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế. - Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B) bao gồm: Chất thải thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
5 - Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C) bao gồm: Chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm nhƣ: Bệnh phẩm và dụng cụ đựng/dính bệnh phẩm. - Chất thải giải phẫu (loại D) bao gồm: Các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể ngƣời; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm [29]. Định nghĩa nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn trong chăm sóc da - Định nghĩa nhiễm khuẩn bệnh viện: Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “ NKBV là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian ngƣời bệnh điều trị tại bệnh viện và nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng nhƣ không nằm trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện. NKBV thƣờng xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi ngƣời bệnh nhập viện” [29].
- Nhƣ vậy nhiễm khuẩn trong chăm sóc da: là nhiễm khuẩn mắc phải trong quá trình nhân viên chăm sóc cho khách hàng gồm những thao tác: chăm sóc da, phun xăm mắt, môi, lông mày và quá trình làm móng, bấm móng cho khách hàng kể cả quá trình khử khuẩn dụng cụ cũng nhƣ xử lý rác thải lây nhiễm tại các cơ sở chăm sóc da [3]. Định nghĩa chăm sóc da thẩm mỹ Là dùng những phƣơng pháp hóa học, lý học và cơ học với mục đích làm trẻ hóa da, chống lão hóa da kể cả các phƣơng pháp dùng công nghệ laser, phun xăm mắt, môi và phun xăm nghệ thuật kết hợp với mỹ phẩm phục vụ chăm sóc da cho nam giới và phụ nữ phục vụ cho nhu cầu làm đẹp, các cơ sở chăm sóc da ngoài cung cấp các dịch vụ trên còn cung cấp thêm dịch vụ tƣ vấn liên quan đến sức khỏe, sắc đẹp từ thẩm mỹ da mặt, chăm sóc bàn chân, liệu pháp oxy, tắm bùn, và vô số các dịch vụ khác…[3] Cấu trúc của da Da chiếm 15% trọng lƣợng cơ thể, với diện tích 1,5-2m2, bao bọc cơ thể và tiếp nối với các niêm mạc của mắt, mũi, miệng, hậu môn và bộ phận sinh dục [3]. Da gồm nhiều lớp nhƣng có thể chia thành 3 lớp chính: Lớp biểu bì (epiderma) 6 Đây là lớp ngoài cùng của da (thƣợng bì), làm thành ranh giới ngăn cách cơ thể và môi trƣờng bên ngoài. Thƣợng bì là một cấu trúc tế bào không có mạch máu, dày từ 0,06mm ở nơi mỏng nhất (mi mắt) đến nơi dày nhất (lòng bàn tay, bàn chân).
Thƣợng bì đƣợc cấu tạo bởi nhiều lớp tế bào sau đây: - Lớp đáy (stratum basle): là nơi sinh ra những tế bào mới thay thế những tế bào cũ đã bị phá hủy. Ở lớp đáy có hai loại tế bào là: tế bào sinh sản và tế bào hắc tố, có nhiệm vụ chế tạo melanin. - Lớp gai (stratum spinosum): là lớp dày nhất của thƣợng bì, gồm những tế bào đa diện, sắp xếp theo kiểu lát tầng đƣợc nối với nhau bằng những cầu nối liên bào, có nhiệm vụ giữ chặt chúng lại, chịu đƣợc sức ma sát, sức co dãn. Niêm mạc bình thƣờng không có lớp hạt.
- Lớp sáng (stratum lucidum): Là vùng trong và hẹp, nằm trên lớp hạt của thƣợng bì, có ở lòng bàn tay và lòng bàn chân. Lớp này gồm những tế bào sáng, trong suốt chứa một chất đặc biệt gọi là éléidine. A: Hắc tố bào B: Cơ C: Tuyến bã nhờn D: Lông E: Biểu bì F: Bì G: Mô dƣới da H: Mỡ I: Động mạch J: Tuyến mồ hôi K:Nang lông L:Tiểu thể Pacinian Hình 1: Cấu trúc da 7 - Lớp sừng (stratum corneum): Là lớp ngoài cùng của thƣợng bì, là những tế bào chết không còn nhân, đã hoá sừng, xếp thành phiến mỏng chồng chất lên nhau. Chiều dày của lớp sừng thay đổi tuỳ theo vùng (đặc biệt dày hơn ở lòng bàn tay, bàn chân).
Lớp sừng còn đƣợc gọi là hàng rào ngăn cản sự xâm nhập của các chất từ bên ngoài vào da. - Màng chất béo bảo vệ: là sản phẩm tiết của tuyến bã nhờn, bề dày 0,1- 0,4 micromet, có cấu tạo không đều, tác dụng giữ cho da trơn và bảo vệ tránh những tác động của môi trƣờng xung quanh. Lớp này hầu nhƣ không ảnh hƣởng đến hấp thụ của thuốc vì bản chất là chất béo và chứa cholesterol, có thể tan trong tá dƣợc thân dầu và nhủ hoá đƣợc các chất lỏng phân cực, các dung dịch thuốc nƣớc.