CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU NHẬP TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Khái niệm, chức năng, vai trò, ý nghĩa của tiền lương và thu nhập. Khái niệm tiền lương và thu nhập 1. Khái niệm tiền lương Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật quốc gia do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng văn bản hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện hoặc cho những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm”[24].
Đối với giáo trình Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân (2022) “Tiền lương là số tiền trả cho người lao động một cách cố định và thường xuyên theo một đơn vị thời gian (tuần, tháng, năm). Tiền lương thường được trả cho các cán bộ quản lý và các nhân viên chuyên môn, kỹ thuật” [26, tr. Điều 90 của bộ luật số 45/2019/QH14 của Quốc hội – Bộ luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định như sau: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu.
Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau” [28]. Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả muốn đưa ra một quan điểm khái quát về tiền lương của viên chức (VC), người lao động (NLĐ) trong ĐVSNCL như sau: 8 “Tiền lương của viên chức, người lao động là khoản tiền mà VC, NLĐ nhận được từ NSNN và nguồn thu sự nghiệp khi thực hiện các công việc mang tính chuyên môn, quản lý hành chính, phục vụ trong các ĐVSNCL theo quy định của pháp luật” 1. Khái niệm thu nhập Hiện này chưa có một khái niệm cụ thể nào về thu nhập được các nhà khoa học cũng như các tổ chức công nhận, chỉ có những quan điểm được đưa ra cụ thể tại trang Thư viện pháp luật có nói rằng “Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó. Thu nhập có thể gồm các khoản như tiền lương; tiền công; tiền cho thuê tài sản; lợi nhuận kinh doanh.
Thu nhập có thể có được từ nhiều nguồn khác nhau có thể từ lao động, từ việc sở hữu những giấy tờ có giá trị, từ thừa kế, được tặng cho. Trong luận văn này tác giả cũng đưa ra quan điểm cá nhân của mình về thu nhập đối với VC, NLĐ trong ĐVSNCL như sau “Thu nhập đối với VC, NLĐ trong ĐVSNCL là toàn bộ số tiền mà VC, NLĐ nhận được trong một thời kỳ nhất định (có thể tháng, quý, năm) bao gồm tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương, tiền thưởng, thu nhập tăng thêm, tiền nhận được từ bảo hiểm xã hội và các khoản trợ cấp khác”. Chức năng của thu nhập 1. Thước đo giá trị của lao động Do lao động là hoạt động chính của con người.
Nó cũng là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất và hoạt động kinh tế. Tiền lương nói riêng cũng như thu nhập nói chung là giá cả của sức lao động; là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động. Hiểu theo cách này, thu nhập phải là thước đo giá trị sức lao động và xác định đúng giá trị sức lao động. Tái sản xuất sức lao động Thu nhập là nguồn quan trọng giúp người lao động thỏa mãn được tối đa các nhu cầu về văn hóa và vật chất của họ.
Mức độ thỏa mãn các nhu cầu của NLĐ phần lớn được căn cứ vào độ lớn của các mức thu nhập mà họ kiếm được. Thu nhập NLĐ càng lớn thì mức độ thỏa mãn của họ càng cao từ đó bảo đảm tái sản xuất sức lao động giản đơn và mở rộng sức lao động cho chính họ và gia đình họ. Bởi vậy thu nhập bị chi phối bởi quy luật tái sản xuất sức lao động. Có nghĩa là trong một giới hạn nhất định, do an h nghi ệp phải bảo đảm mức thu nhập tối thiểu cho NLĐ mà không phụ thuộc vào hiệu quả lao động của họ.
Hơn nữa, thu nhập tăng dần sẽ có tác động nâng cao khả năng tái tạo sức lao động từ đó tạo tiền đề nâng cao chất lượng lao động và các giá trị khác của NLĐ. Kích thích sản xuất phát triển Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người cũng ngày một cao hơn. Khi tham gia lao động, NLĐ thấy được các nhu cầu đó của họ có thể được thỏa mãn thông qua thu nhập của mình. Vì vậy họ sẽ hiểu được ý nghĩa to lớn của thu nhập.
Từ đó họ sẽ tích cực lao động để tạo được nhiều thu nhập hơn nữa, đáp ứng nhiều hơn nữa các nhu cầu của mình. Đây cũng là yếu tố kích thích sản xuất phát triển. Chức năng tích lũy Khi NLĐ khi nhận được khoản thu nhập nào đó họ có xu hướng chi tiêu một phần, phần còn lại họ sẽ tích lũy. Số tiền tích lũy được họ có thể cất giữ hoặc gửi tiết kiệm tại những nơi họ tin cây.
Đây là một nguồn hình thành vốn rất hiệu quả cho xã hội. Hơn nữa những người có thu nhập cao sẽ phải đóng góp một phần thu nhập cụ thể là thuế thu nhập cá nhân và do đó góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách của Nhà nước. Vai trò của thu nhập Thu nhập của VC, NLĐ có vai trò quan trọng đối với cả VC, NLĐ và các ĐVSNCL. Thu nhập có tác dụng bù đắp lại sức lao động cho NLĐ.
Đồng 10 thời thu nhập cũng đóng vai trò quan trọng trong việc động viên và khuyến khích việc làm của người lao động. Muốn NLĐ có thể tận tâm tận lực với công việc thì công việc ấy phải đem lại cho họ một khoản thu nhập đủ để trang trải cuộc sống. Thực tế hiện nay thu nhập còn được coi như một thước đo chủ yếu về trình độ lành nghề và thâm niên nghề nghiệp. Chính vì vậy việc được hưởng một mức thu nhập cao hay thấp có ảnh hưởng rất lớn đến VC, NLĐ Đối với các ĐVSNCL, thu nhập mà đơn vị chi trả cho NLĐ được coi là một bộ phận trong chi hoạt động thường xuyên của đơn vị.
Vì vậy, chúng ta có thể thấy thu nhập là một đòn bẩy quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của ĐVSNCL. Mặt khác chi trả thu nhập trong đơn vị công bằng và hợp lý sẽ góp phần duy trì, củng cố và phát triển lực lượng lao động của mình. Phân loại thu nhập 1. Thu nhập từ lương Thu nhập từ lương đối với VC, NLĐ trong các ĐVSNCL chính là khoản tiền nhận được cố định hàng tháng của họ ví dụ như: lương cơ bản hoặc lương khoán, các khoản phụ cấp theo lương (phụ cấp chức vụ, phụ cấp công vụ, phụ cấp ưu đãi nghề, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại…) 1.
Thu nhập ngoài lương Thu nhập ngoài lương đối với VC, NLĐ trong các ĐVSNCL thông thường gồm thu nhập tăng thêm; tiền thưởng lễ tết, thưởng đột xuất; các trợ cấp khác (trợ cấp kinh phí đào tạo, trợ cấp ốm đau thai sản bệnh nghề nghiệp, …). Trong giai đoạn dịch bệnh Covid – 19 bùng phát tại nước ta thì một số VC, NLĐ có thêm phụ cấp chống dịch Covid – 19. *Thu nhập tăng thêm: + Thu nhập tăng thêm là gì: Thu nhập tăng thêm (TNTT) là khoản thu nhập được trích từ lợi nhuận sau thuế và được phân phối theo quy chế chi tiêu nội bộ của từng đơn vị. 11 Chi trả TNTT là khoản chi thuộc Quỹ bổ sung thu nhập nhằm bổ sung thu nhập cho VC, NLĐ trong năm.
Quỹ bổ sung thu nhập cũng nhằm bảo đảm bổ sung thu nhập cho VC, NLĐ trong năm tiếp theo nếu nguồn thu năm đó bị giảm. *Thưởng lễ tết, thưởng đột xuất: Việc chi trả thưởng lễ tết, thưởng đột xuất được các ĐVSNCL thực hiện theo các quy định của pháp luật và theo quy chế chi tiêu nội bộ (QCCTNB) của từng đơn vị; thông thường được trích từ Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi của đơn vị. * Các khoản trợ cấp khác: Các khoản trợ cấp khác có thể có của VC, NLĐ tại các ĐVSNCL gồm chi hỗ trợ kinh phí đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ thông thường kinh phí này do đơn vị tự chi trả theo các quy định tại QCCTNB của mỗi đơn vị; trợ cấp ốm đau thai sản, tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp do cơ quan BHXH nơi VC, NLĐ đóng bảo hiểm chi trả theo quy định của pháp luật ngoài ra có thể mỗi ĐVSNCL cũng có quy định riêng trong QCCTNB về các mức hỗ trợ cụ thể với những VC, NLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong khi tham gia làm việc tại đơn vị; còn một số trợ cấp khác như trợ cấp phòng chống dịch Covid – 19 chỉ được chi trả trong giai đoạn dịch bùng phát và mức chi được chi theo quy định của các cấp có thẩm quyền quy định. Ý nghĩa của thu nhập Thu nhập có ý nghĩa lớn đối với VC, NLĐ trong các ĐVSNCL thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, thu nhập có ý nghĩa trong tái sản xuất sức lao động.
Khi thu nhập trả cho VC, NLĐ được chi trả dựa trên giá trị sức lao động mà VC, NLĐ đó bỏ ra khi tham gia lao động. Tái sản xuất sức lao động đảm bảo rằng thu nhập của VC, NLĐ đủ để duy trì cuộc sống của họ và gia đình mình, bao gồm việc cung cấp các nhu cầu thiết yếu và đảm bảo an sinh xã hội. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra mục tiêu nâng cao trình độ chuyên môn và tạo điều kiện thuận lợi để họ tiếp tục học hỏi và phát triển bản thân trong lĩnh vực công việc của họ. 12 Điều này có thể bao gồm cơ hội để tham gia vào các khóa học đào tạo hoặc đổi mới nghề nghiệp.