Tổng quan nghiên cứu

Quản lý và sử dụng đất công hiệu quả là trụ cột then chốt nhằm bảo đảm nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng tại các đô thị đang trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tại thành phố Hà Nội, quận Long Biên là đơn vị hành chính cửa ngõ phía Đông Bắc có quy mô tự nhiên 5.982,1 ha, chiếm 17,81% tổng diện tích đất của toàn thành phố với cơ cấu kinh tế tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 16,20%. Trong tổng số 4.251,2 ha đất phi nông nghiệp trên địa bàn, quỹ đất dành cho các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất chiếm vị trí chiến lược với 306 tổ chức, quản lý tổng diện tích 547,6 ha (tương đương 9,15% tổng diện tích đất tự nhiên toàn quận).

Thực tế công tác quản lý đối với loại hình quỹ đất này trong thời gian dài bộc lộ nhiều bất cập, từ việc buông lỏng theo dõi hồ sơ địa chính đến tình trạng chậm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi tỷ lệ cấp mới chỉ đạt 14,8% diện tích (tương ứng 81,2 ha của 69 tổ chức). Bên cạnh đó, việc phát sinh 10,1 ha đất hoang hóa, chậm đưa vào khai thác cùng hiện tượng cho thuê mặt bằng sai mục đích đã gây thất thoát nguồn thu ngân sách và ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự kỷ cương đô thị.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý đất đai (mã số 8850103) của tác giả Vũ Thị Ninh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Khắc Thời tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tập trung đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý, đo đạc, lập hồ sơ và sử dụng đất của 306 tổ chức không thu tiền sử dụng đất trên địa bàn 14 phường thuộc quận Long Biên giai đoạn 2007 - 2017. Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc làm rõ thực trạng chấp hành pháp luật đất đai, xác định các điểm nghẽn quản lý và đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm tối ưu hóa hiệu suất sử dụng 547,6 ha đất công, nâng cao năng lực quản trị hành chính công và thiết lập cơ sở dữ liệu số hóa đất đai cho giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa Lý thuyết kinh tế tài nguyên đất đai (Land Resource Economics), Lý thuyết quản lý công hiện đại (New Public Management) và Học thuyết quyền tài sản đối với đất đai (Doctrine of Estates). Theo kinh tế học tài nguyên, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt có giới hạn tuyệt đối về mặt không gian nhưng nhu cầu sử dụng luôn gia tăng cùng tiến trình đô thị hóa; do đó, cơ chế phân bổ phi thị trường như giao đất không thu tiền đòi hỏi công cụ kiểm soát hành chính nghiêm ngặt để triệt tiêu xu hướng khai thác lãng phí và chuyển đổi công năng tùy tiện.

Khung pháp lý của đề tài căn cứ trực tiếp vào Luật Đất đai 2013 (đặc biệt là Điều 22, 23 về nội dung, trách nhiệm quản lý nhà nước; Điều 54, 166, 170 và 173 về quyền, nghĩa vụ của tổ chức được giao đất không thu tiền), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT. Ba khái niệm cốt lõi được định hình xuyên suốt đề tài bao gồm:

  1. Tổ chức được giao đất không thu tiền sử dụng đất: Các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng và ủy ban nhân dân cấp xã được phân bổ đất phục vụ mục đích công ích, quốc phòng, an ninh hoặc an sinh xã hội mà không phải trả tiền sử dụng đất.
  2. Hiệu quả quản lý sử dụng đất công: Mức độ chuẩn hóa hồ sơ địa chính, tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tính tuân thủ quy hoạch xây dựng của tổ chức được giao.
  3. Quyền tài sản phái sinh có điều kiện: Chế định pháp lý quy định các tổ chức này không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp hay góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học, nghiên cứu đã thu thập và xử lý kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp theo quy trình 4 bước chặt chẽ:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Chỉ thị 31/2007/CT-TTg, Nghị quyết 16/2007/NQ-CP), báo cáo thống kê đất đai giai đoạn 2007 - 2016 của Tổng cục Quản lý Đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Chi cục Thống kê và Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Long Biên.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 100 tổ chức sử dụng đất công (chiếm 32,68% tổng số 306 tổ chức toàn quận) kết hợp phỏng vấn sâu 16 cán bộ chuyên trách (2 chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường quận và 14 công chức Địa chính – Xây dựng của 14 phường). Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm phân bổ mẫu đều khắp 14 phường (mỗi phường 7 phiếu, riêng 2 phường có diện tích lớn là Ngọc Thụy và Đức Giang khảo sát 8 phiếu/phường) đại diện đầy đủ cho 7 loại hình tổ chức.
  • Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Ứng dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý các bảng biểu thống kê mô tả, phân tích cơ cấu tỷ trọng, so sánh đối chiếu số liệu quản lý giai đoạn 2014 - 2017 và khảo sát thực địa bằng hình ảnh ghi nhận hiện trạng. Việc lựa chọn phương pháp này cho phép định lượng hóa chính xác tỷ lệ sai phạm, diện tích chưa khai thác và đánh giá tương quan giữa tốc độ cấp giấy chứng nhận với quy mô quản lý của từng nhóm chủ thể. Toàn bộ lộ trình nghiên cứu thực địa được triển khai từ tháng 3 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng hợp kết quả điều tra trên địa bàn 14 phường quận Long Biên cho thấy tổng diện tích đất giao cho 306 tổ chức không thu tiền sử dụng đất là 547,6 ha, chiếm 9,15% diện tích tự nhiên của quận. Phân tích cơ cấu phân bổ quỹ đất ghi nhận sự khác biệt rõ nét giữa các khối đơn vị:

  • Đơn vị quốc phòng quản lý tỷ trọng lớn nhất với 273,8 ha, chiếm 50,0% tổng diện tích đất được giao không thu tiền toàn quận.
  • Khối tổ chức sự nghiệp công lập quản lý 97,4 ha (chiếm 17,8%), tiếp theo là các cơ sở tôn giáo với 83,0 ha (chiếm 15,2%).
  • Ủy ban nhân dân cấp phường quản lý 46,5 ha (chiếm 8,5%), các cơ sở tín ngưỡng chiếm 26,1 ha (chiếm 4,8%), cơ quan nhà nước sử dụng 14,3 ha (chiếm 2,6%) và đơn vị an ninh sử dụng 6,5 ha (chiếm 1,2%).

Về công tác đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ): Toàn quận mới chỉ cấp được 90 Giấy chứng nhận cho 69 tổ chức với tổng diện tích 81,2 ha, đạt tỷ lệ khiêm tốn 14,8% trên tổng diện tích đất giao không thu tiền. Tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với mức hoàn thành cấp GCNQSDĐ chung cho các tổ chức toàn thành phố Hà Nội (đạt 73,93% với 14.247 thửa đất) và thua xa tỷ lệ 98% của đất hộ gia đình, cá nhân.

Về mức độ tuân thủ mục đích sử dụng đất: Diện tích sử dụng đúng mục đích đạt 496,9 ha, chiếm tỷ lệ 90,7%. Tuy nhiên, tồn tại 10,1 ha đất chậm đưa vào sử dụng, bị bỏ hoang hóa (chiếm 1,8% quỹ đất giao). Đáng chú ý, tình trạng sai phạm tập trung ở hành vi cho thuê trụ sở, nhà xưởng kinh doanh sai quy định như tại Đơn vị Pháo Phòng không không quân C75 (thuộc Trung đoàn 280 - Sư đoàn 361 tại ngõ 47 Nguyễn Văn Linh), Binh đoàn 12 (ngõ 332 Ngô Gia Tự để đất hoang hóa), Phòng Tài chính Kế hoạch quận Long Biên, Trường Mầm non Gia Thụy và Nhà văn hóa tổ dân phố số 1 phường Phúc Đồng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ cấp GCNQSDĐ chỉ đạt 14,8% và sự tồn tại của 10,1 ha đất lãng phí phản ánh sự thiếu hụt công cụ giám sát hậu giao đất. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ tính lịch sử của hồ sơ địa chính qua nhiều thời kỳ chia tách địa giới, sự phối hợp lỏng lẻo giữa chính quyền địa phương với các cơ quan quản lý ngành dọc (đặc biệt là khối doanh nghiệp quân đội và cơ sở quốc phòng chiếm tới 50% quỹ đất). Hơn nữa, việc giao đất không thu tiền vô hình trung tạo ra tâm lý coi nhẹ giá trị tài sản công, thiếu động lực kinh tế để các đơn vị tự giác tối ưu hóa mặt bằng.

Để trực quan hóa các kết quả này, dữ liệu nghiên cứu có thể được mô hình hóa qua bảng ma trận phân loại đất công theo 7 nhóm chủ thể gắn với tỷ lệ cấp chứng nhận và biểu đồ cột so sánh tương quan giữa diện tích sử dụng đúng mục đích (90,7%) với tỷ lệ diện tích hoang hóa, sai phạm (9,3%). Việc đối chiếu số liệu này với các nghiên cứu thực hiện tại các đô thị vệ tinh cho thấy sự tương đồng về tình trạng vi phạm quản lý đất công nhưng tại Long Biên, tính phức tạp gia tăng do tốc độ đô thị hóa nhanh và giá trị thị trường của đất đai biến động mạnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, nghiên cứu đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý 547,6 ha đất công tại quận Long Biên:

  1. Hoàn thiện chính sách và phân cấp quản lý đất đai: Rà soát và cập nhật 100% hồ sơ pháp lý về giao đất công, xây dựng quy chế phối hợp liên ngành giữa Ủy ban nhân dân quận Long Biên với Bộ Quốc phòng và Bộ Công an nhằm làm rõ ranh giới đất quốc phòng - an ninh kết hợp làm kinh tế. Mục tiêu hoàn thiện quy chuẩn phân cấp trước quý IV năm 2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội chủ trì phối hợp UBND quận.
  2. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Thanh tra quận phối hợp Phòng Tài nguyên và Môi trường thành lập đoàn kiểm tra chuyên đề, xử lý dứt điểm 100% các trường hợp tự ý cho thuê đất, liên doanh trái phép (như tại phường Phúc Đồng, Đức Giang) và thu hồi 10,1 ha diện tích hoang hóa để bàn giao lại cho địa phương xây dựng trường học, công viên trong giai đoạn 2018 - 2020.
  3. Đẩy mạnh công tác đăng ký và cấp Giấy chứng nhận: Đơn giản hóa thủ tục hành chính, phấn đấu nâng tỷ lệ cấp GCNQSDĐ từ mức 14,8% lên trên 80% diện tích cho 306 tổ chức trong vòng 24 tháng. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận Long Biên đóng vai trò cơ quan thường trực giải quyết các vướng mắc đo đạc trích lục.
  4. Hiện đại hóa công nghệ thông tin và số hóa dữ liệu: Xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) đồng bộ quản lý toàn bộ 14 phường, kết nối cơ sở dữ liệu đất công với Trung tâm dữ liệu của thành phố, hoàn thành vận hành thử nghiệm trong 18 tháng do UBND quận Long Biên cấp kinh phí đầu tư.
  5. Nâng cao năng lực cán bộ và tuyên truyền pháp luật: Tổ chức tối thiểu 2 khóa tập huấn chuyên sâu/năm về Luật Đất đai cho 100% công chức địa chính 14 phường và lãnh đạo 306 đơn vị thụ hưởng đất công, gắn trách nhiệm cá nhân của thủ trưởng cơ quan nếu để xảy ra lấn chiếm, cho thuê sai quy định.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị khoa học và thực tiễn phong phú, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và tài nguyên môi trường: Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện/quận có thể sử dụng các chỉ số thống kê 547,6 ha đất công của Long Biên làm mô hình tham chiếu để xây dựng quy trình kiểm tra, giám sát quỹ đất công ích tại các quận đô thị hóa.
  2. Lãnh đạo các tổ chức sự nghiệp, cơ quan hành chính và đơn vị vũ trang: Người đứng đầu các đơn vị đang quản lý trụ sở, cơ sở tôn giáo và đất quốc phòng nắm bắt được khung pháp lý về quyền hạn và nghĩa vụ tại Điều 173 Luật Đất đai 2013, từ đó chủ động chuẩn hóa hồ sơ địa chính và phòng ngừa rủi ro vi phạm hành chính.
  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giảng viên và sinh viên chuyên ngành Quản lý đất đai, Kinh tế tài nguyên và Bất động sản có thể kế thừa bộ công cụ điều tra 100 tổ chức cùng khung phân tích so sánh để phát triển các đề tài luận văn, công trình nghiên cứu về quản trị công sản.
  4. Chuyên gia tư vấn quy hoạch và quy chuẩn đô thị: Các nhà hoạch định chính sách đô thị tham khảo số liệu 10,1 ha đất hoang hóa và cơ cấu 71,1% đất phi nông nghiệp để đề xuất các phương án điều chỉnh quy hoạch quỹ đất công cộng phục vụ an sinh xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất có những quyền và hạn chế cơ bản nào? Theo quy định tại Điều 166, 170 và 173 Luật Đất đai 2013, các tổ chức này được quyền sử dụng đất theo đúng mục đích công vụ được giao nhưng hoàn toàn không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp hay góp vốn bằng quyền sử dụng đất và không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi.

Câu hỏi 2: Tại sao tỷ lệ cấp GCNQSDĐ cho các tổ chức tại quận Long Biên chỉ đạt 14,8% diện tích? Tỷ lệ này chỉ đạt 81,2 ha (90 GCN của 69 tổ chức) do hồ sơ nguồn gốc đất đai lịch sử phức tạp, ranh giới đo đạc biến động sau quá trình đô thị hóa từ huyện Gia Lâm thành quận Long Biên năm 2003, đồng thời nhiều đơn vị quốc phòng chiếm 50% quỹ đất chưa chủ động phối hợp kê khai đăng ký.

Câu hỏi 3: Nhóm tổ chức nào đang quản lý diện tích đất được giao không thu tiền lớn nhất tại quận Long Biên? Đơn vị quốc phòng là khối quản lý diện tích lớn nhất với 273,8 ha, chiếm đúng 50,0% tổng diện tích đất giao không thu tiền trên địa bàn quận, vượt trội so với khối sự nghiệp công lập (97,4 ha, 17,8%) và các cơ sở tôn giáo (83,0 ha, 15,2%).

Câu hỏi 4: Các dạng vi phạm phổ biến nhất trong quản lý đất công tại địa bàn nghiên cứu là gì? Các vi phạm nổi cộm bao gồm việc chậm đưa đất vào sử dụng để hoang hóa 10,1 ha và tự ý phân chia mặt bằng, cho thuê văn phòng, nhà xưởng sản xuất trái phép để thu lợi thương mại sai quy định pháp luật như đã ghi nhận tại một số đơn vị sự nghiệp, văn hóa và doanh nghiệp quốc phòng.

Câu hỏi 5: Giải pháp căn cơ nào giúp xử lý dứt điểm tình trạng đất công bỏ hoang và sử dụng sai mục đích? Giải pháp then chốt là số hóa toàn diện dữ liệu quản lý qua GIS, công khai minh bạch ranh giới 306 tổ chức và kiên quyết thực hiện chế tài thu hồi đất đối với 10,1 ha đất chậm khai thác theo Điều 64 Luật Đất đai để chuyển giao cho chính quyền địa phương phát triển công trình công cộng.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã làm rõ bức tranh tổng thể về 547,6 ha đất công do 306 tổ chức quản lý trên địa bàn quận Long Biên, trong đó khối quốc phòng chiếm tỷ trọng lớn nhất với 50,0% diện tích.
  • Đánh giá chính xác tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn hạn chế khi mới đạt 14,8% diện tích (81,2 ha) và nhận diện 10,1 ha đất hoang hóa, sử dụng sai công năng.
  • Đóng góp cơ sở thực tiễn vững chắc giúp hoàn thiện cơ chế kiểm soát đất công ích cho các đô thị mới thành lập và đang trong tiến trình đô thị hóa nhanh.
  • Thiết lập khung 5 giải pháp hành động đồng bộ về chính sách, thanh tra, cải cách hành chính, số hóa dữ liệu và đào tạo nhân lực nhằm giải quyết dứt điểm tồn đọng giai đoạn 2018 - 2021.
  • Cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và các tổ chức sử dụng đất cần chủ động tham khảo dữ liệu luận văn để thúc đẩy việc chuẩn hóa hồ sơ và khai thác tối ưu nguồn lực đất đai phục vụ phát triển bền vững Thủ đô.