chương I mục 2 đã nêu rõ 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai như sau: • Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó. • Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. • Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. • Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
• Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. • Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. • Thống kê, kiểm kê. • Quản lý tài chính về đất đai.
• Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản. n 13 • Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. • Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. • Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.
• Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. Sau khi luật đất đai năm 2003 được ban hành, trong thời gian qua, Bộ Tài Nguyên & Môi Trường đã tích cực, chủ động tham mưu cho Chính phủ ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm hướng dẫn thi hành luật đất đai để luật đi vào cuộc sống, làm cho công tác quản lý đất đai từng bước đi vào nề nếp, sử dụng đất có hiệu quả hơn, đạt kết quả như sau: Đến nay, chính phủ đã ban hành 13 Nghị định, Bộ Tài Nguyên & Môi Trường, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành khác ở Trung ương đã ba hành hơn 200 văn bản, trong đó có 65 văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai và hơn 150 văn bản liên quan đến pháp luật đất đai. Tổng cục địa chính đã tiến hành xây dựng lưới tọa độ “0” gồm 71 điểm bao trùm trên toàn quốc, hệ quy chiếu quốc gia hiện đại VN-2000 đã hình thành, hệ thống lưới tọa độ địa chính cơ sở với gần 20.000 điểm đã phủ kín cả nước, hệ thống bản đồ địa chính cơ bản ở tỷ lệ 1/50.000 hình thành vào cuối năm 2003. Hoàn thành bộ bản đồ địa giới hành chính theo chỉ thị 364/CT tỷ lệ 1.5000 gồm 700 mảnh chuyển lưới chiếu và hiệu chỉnh từ bản đồ UTM.
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ngày càng được đổi mới, được các cấp các ngành quan tâm và triển khai thực hiện. Đến nay, 64 địa phương cấp tỉnh đã hình hành quy hoạch sử dụng đất đai năm 2010 và 100% các tỉnh đều xây dựng được kế hoạch sử dụng đất. Về công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã ban hành thống nhất một loại giấy chứng nhận, khắc phục những bất cập trước đây, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, thời gian giải quyết một số thủ tục được rút ngắn hơn. Về công tác định giá đất,trong những năm qua các tỉnh, thành phố đều đã xây dựng và ban hành bảng giá đất hàng năm theo luật Đất đai năm 2003, tuy n 14 nhiên giá đất của các địa phương quy định hiện còn nhiều bất cập, chưa sát với giá thị trường.
Về công tác tài chính, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng đã định được giá đất theo giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường đã góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, đổi mới công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư, góp phần quan trọng trong việc tháo gỡ cơ bản về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Về công tác kiểm kê đất đai, tổng cục cùng với cán bộ ngành ở Trung ương và cấp ủy chính quyền địa phương đã giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc từ cơ sở cùng với nỗ lực cao của cán bộ công nhân viên toàn ngành đã hoàn thành tốt công tác kiểm kê đất đai. Tóm lại: Công tác quản lý đất đai trong cả nước đã hoàn thành nhiệm vụ, mặc dù điều kiện còn khó khăn. Ngành địa chính đã góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, xây dựng xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong thời gian tới nhiệm vụ quản lý đất đai cần được chú trọng hơn nữa, phát huy những mặt tốt, loại bỏ những tồn tại, thiếu sót, ngành địa chính cần hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Quảng Ninh là một tỉnh miền núi, biên giới và hải đảo nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, có đường biên giới dài 132,8km, có bờ biển dài 25km, diện tích tự nhiên 609. Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo, là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới. Quảng Ninh có nhiều Khu kinh tế, Trung tâm thương mại Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực.
Những năm qua, công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Tỉnh nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Tỉnh do đó công tác này đã đạt.[19] n 15 Sau gần 10 năm triển khai thực hiện luật Đất Đai năm 2003, Nghị quyết Hội nghị làn thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tỉnh Quảng Ninh đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực, bảo vệ môi trường. Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường, quy định, cơ chế chính sách ngày càng được hoàn thiện, các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được nhà nước đảm bảo. Thực hiện Chỉ thị 364/CP ngày 6 tháng 11 năm 1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nay là Thủ tướng Chính phủ về giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính các cấp tỉnh, huyện, xã; UBND Tỉnh đã chỉ đạo các ngành chuyên môn và địa phương xác định cắm mốc địa giới hành chính đến từng xã, phường, thị trấn theo đúng quy định. Theo số liệu điều tra, tỉnh Quảng Ninh có 4 thành phố, 1 thị xã, và 9 huyện với 184 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thi trấn.
Tính đến 31/12/2011, Tỉnh đã đo vẽ bản đồ địa chính chính quy tỷ lệ 1:500 đối với đất đô thị, tỷ lệ 1:1000 đối với đất ở nông thôn, tỷ lệ 1:2000 đối với đất nông nghiệp và tỷ lệ 1:5000, 1:10000 đối với đất lâm nghiệp, với diện tích đã đo vẽ là 664. Hoàn thành công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính chính quy tỷ lệ 1:500 đối với đất đô thị và tỷ lệ 1:2.000 đối với đất nông nghiệp cho 64 xã, phường thuộc 4 thành phố, đó là: Thành phố Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả, Móng Cái. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (gọi tắt là Giấy chứng nhận) trên địa bàn tỉnh cơ bản thực hiện đúng các quy định, tỷ lệ các loại đất được cấp giấy chứng nhận khá cao, đảm bảo việc sử dụng ổn định lâu dài cho các đối tượng sử dụng đất. Tính đến thời điển kiểm kê đất đai ngày 31/12/2010, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã được cấp 81,592 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ gia đình, đạt 79,03% trên tổng số hộ sử dụng đất sản xuất nông nghiệp; 14,876 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ n 16 gia đình, đạt 54,48%; 2,836 Giấy chứng nhận sử dụng đất nuôi truồng thủy sản cho tổ chức, hộ gia đình, đạt 51,97%; 124,721 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị cho các hộ gia đình, cá nhân, đạt 94,36%; 131,971 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nông thôn cho các hộ gia đình, cá nhân, đạt 95,67%; 254 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và đất phi nông nghiệp khác cho tổ chức, đơn vị sử dụng đất, đạt 51,52%.
Công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất qua các năm qua đã đáp ứng nhu cầu về đất đai cho các công trình, dự án. Hằng năm UBND tỉnh đã giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện các dự án phát triển đô thị với diện tích trung bình 475 ha.[19] Dù còn nhiều khó khăn, song với sự nỗ lực của các cấp, các ngành số thu ngân sách từ đất qua các năm đều tăng, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch giao, góp phần đáng kể vào ngân sách của Tỉnh. Năm 2010 tại 14 huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất của 46 dự án, diện tích 352,3 ha, tổng số tiền thu được là 28.[19] Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai được quan tâm và đã có những chuyển biến tích cực, số lượng các vụ khiếu nại tồn đọng kéo dài, phức tạp giảm, không có hiện tượng khiếu kiện đông người. Công tác giải quyết đơn thư: Trong năm 2011 chính nhà nước các cấp đã tiếp 5.421 lượt công dân với 2.358 vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; trong đó tại trụ sở tiếp công dân của tỉnh đã tiếp 1.581 lượt công dân, giảm 1,98% so với cùng kỳ năm 2010.
tổng số đơn thư đã tiếp nhận, xử lý là 4. Qua phân loại có 118 vụ việc khiếu nại, giảm 48% so với năm 2010; 47 vụ việc tố cáo, giảm 20,3%. Nội dung các vụ việc chủ yếu là bồi thường GPMB (73 vụ việc); liên quan đến đất đai (38 vụ việc).