Đặt vấn đề Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và kiến nghị n 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái niệm nghèo Việt Nam thừa nhận quan điểm về đói nghèo của Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Kok - Thái Lan vào tháng 9/1993. Khái niệm đói nghèo được thể hiện như sau: “Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà các nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương” (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006) [1]. Nói một cách cụ thể hơn, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống ở mức tối thiểu, không thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người.
Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu, cái tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người. Nhu cầu ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp, v.v… “Đói là một bộ phận của những người nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu như: cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thu nhập không duy trì cuộc sống” (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006) [1]. “Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. Trên thực tế một bộ phận lớn dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu ăn” (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006) [1].
“Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương” (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006) [1]. Nghèo còn được nhận diện ở bốn khía cạnh là không gian, thời gian, môi trường và giới. n 5 Về thời gian: Phần lớn người nghèo có mức sống dưới mức được xác định như một chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận trong một thời gian dài (cũng cần phải bổ sung vào số người này những người nghèo tình thế do thất nghiệp do thiên tai, rủi do hay do con người gây ra) (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]. Vể giới: Phần lớn người nghèo ở các nước đều là phụ nữ.
Mặc dù trong gia đình, nam giới là chủ nhưng phụ nữ vẫn phải gánh chịu nhiều hơn gánh nặng của nghèo (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]. Về không gian: Nghèo diễn ra chủ yếu ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, v.v… Dù nền kinh tế có phát triển đến thế nào chăng nữa, dân cư ở các vùng kể trên vẫn dễ bị rơi vào nghèo (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]. Về môi trường: Hầu hết những người nghèo đều phải sống trong môi trường khắc nhiệt và xuống cấp nghiêm trọng, bởi vì những người nghèo không đủ khả năng và điều kiện gìn giữ, đảm bảo và cải thiện môi trường sống (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]. Tóm lại: Những quan niệm về nghèo đói do các cách tiếp cận khác nhau nên có những ý kiến khác nhau, nghèo là một khái niệm tương đối và có tính biến đổi.
Các chỉ số xác định giới hạn nghèo không phải là cứng nhắc và bất biến. Nó biến đổi tùy theo sự chênh lệch, sự khác biệt giữa các vùng, miền, quốc gia. Chuẩn mực xác định nghèo đói * Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới: Để đánh giá nghèo đói Liên hợp quốc (UNDP) dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhất định. Nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư.
Phương pháp tính là: Đem chia dân số của 1 nước, 1 châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: rất giàu, giàu, trung bình, nghèo, rất nghèo. Theo cách tính này vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất n 6 chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% người nghèo nhất chỉ chiếm 1,4% thu nhập toàn thế giới. Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD. Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại: + Trên 25.000USD/người/năm là nước cực giàu.000UDS/người/năm là nước giàu.000USD/người/năm là nước khá giàu.000USD/người/năm là nước trung bình.
+ Từ 500 đến dưới 2.500USD/người/năm là nước nghèo. + Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo. Theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội. Do đặc điểm của nền KT - XH và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia.
Ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được xác định là 14USD/người/ngày. Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaixia là 28USD/người/tháng, Srilanca là 17USD/người/tháng, v.v… Ở Việt Nam, GDP bình quân khoảng 600USD/người/năm, nên so diện chung của thế giới nước ta là nước nghèo khó. Do đó, không thể lấy mức nghèo của WB để xác định nghèo của Việt Nam (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]. * Xác định tiêu trí chuẩn nghèo của Việt Nam: - Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực của chương trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kì. Lúc đầu, nghèo được xác định dựa trên các chỉ tiêu nhu cầu, sau đó chuyển sang n 7 chỉ tiêu thu nhập, kết quả là đã 5 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau (bảng 2.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia) Chuẩn nghèo Mức thu nhập bình đói qua các giai Phân loại nghèo đói quân/người/tháng đoạn 1993 - 1995 Đói (KV nông thôn) Dưới 8 KG (Mức thu nhập Đói (KV thành thị) Dưới 13 KG quy ra gạo) Nghèo (KV nông thôn) Dưới 15 KG Nghèo (KV thành thị) Dưới 20 KG 1996 - 2000 Đói (tính cho mọi KV) Dưới 13 KG ( 45.000 đồng) (Mức thu nhập Nghèo (KV nông thôn, Dưới 15 KG (55.000 đồng) quy ra gạo tương miền núi, hải đảo) đương với số Nghèo (KV nông thôn, Dưới 20 KG (70.000 đồng) tiền) đồng bằng trung du) Nghèo (KV thành thị) Dưới 25 KG (90.000 đồng) 2001 - 2005 Nghèo (KV nông thôn, Dưới 80.000 đồng (Mức thu nhập miền núi hải đảo) tính bằng tiền) Nghèo (KV nông thôn, Dưới 100.000 đồng đồng bằng trung du) Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng 2006 - 2010 Nghèo (KV nông thôn) Dưới 200.000 đồng tính bằng tiền) 2011 – 2015 Nghèo (KV thành thị) Dưới 500.000 đồng tính bằng tiền) Nghèo (KV nông thôn) Dưới 400.000 đồng Cận nghèo (KV nông thôn) Từ 401.000 đồng (Nguồn: Bộ LĐ-TB và XH, chương tình mục tiêu quốc gia về XĐGN) n 8 Đầu năm 1998, cả nước có 2,65 triệu hộ với khoảng 14 triệu dân nghèo đói, chiếm 17,7% dân số.000 hộ thường xuyên nghèo đói; có 1.498 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên và 1.168 xã thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu (điện, đường, trường, trạm xá, chợ, nước sạch, v.v…), 2/3 số xã nghèo là các xã miền núi, khoảng 1,2 triệu người ở 978 xã cần được định canh, định cư và 15 vạn đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn cần được hỗ trợ phát triển. Đến cuối năm 2000, tỷ lệ hộ nghèo ở thành thị còn 6% và nông thôn 11,2%. Đầu năm 2001 khi thay đổi chuẩn nghèo đói, nước ta còn khoảng 2,8 triệu hộ nghèo (chiếm 17,11%) đến cuối năm 2005 còn khoảng 1,6 triệu hộ nghèo, chiếm khoảng 9,5% (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3].
Khái niệm nghèo đa chiều Nghĩ đến nghèo, chắc hẳn mỗi chúng ta nghĩ đến đầu tiên sự thiếu thốn về tiền và thu nhập. Và đó là cách nghĩ phổ biến, vậy nghèo đa chiều là gì? Nghèo đa chiều (multidimensional poverty): Đã ra đời trong đó xác định rõ nghèo không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác mà nghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận với các dịch vụ về: sức khỏe, giáo dục và mức sống. Như vậy, sự nghèo khó không chỉ đơn thuần là một cá thể mà nó bao gồm các yếu tố kìm hãm cá thể đó không tiếp cận được các nguồn lực hoặc không biết và không thể tìm ra các giải pháp cho bản thân để thoát ra khỏi tình trạng hiện có [13]. Chưa có định nghĩa thống nhất về khái niệm nghèo đa chiều, nhưng nó có đặc tính cơ bản là: không nhìn nghèo với con mắt một chiều mà nhiều chiều; không xem nghèo là một hiện tượng đơn lẻ mà là hiện tượng đa khía cạnh, phức tạp, chồng chéo, bao gồm nhiều yếu tố khác nhau.
Nghèo đa chiều là sự thiếu hụt tổng hợp của hai hay nhiều loại vốn khác nhau của một người hoặc nhóm người: vốn sức khoẻ, vốn tâm lý, vốn thông tin, vốn con người, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn tự nhiên…. Ta sẽ đi tìm hiểu về từng loại vốn để thấy được tầm quan trọng của chúng và có các biện pháp giảm nghèo thích hợp [13]. * Vốn tự nhiên (natural capital): NN chính là hoạt động chủ yếu trong nông thôn. Vì vậy, vốn tự nhiên là tài sản vô cùng quan trọng.
Bao gồm n 9 đất đai và nguồn nước tưới tiêu. Thiếu vốn tự nhiên có nghĩa là thiếu hoặc không có đất hoặc có nhưng đất đai cằn cỗi, không thể canh tác được. Thiếu vốn tự nhiên tức là thiếu tư liệu sản xuất và kìm hãm sự phát triển kinh tế (Trần Tiến Danh, Nguyễn Ngọc Danh, 12/2012) [2]. * Vốn vật chất (physical capital): Vốn vật chất của hộ được chia làm 3 nhóm là tài sản sản xuất, tài sản tiêu dùng và một số chỉ số khác như điều kiện nhà ở, điện nước sạch và nhà vệ sinh.
Diện tích nhà ở, giá trị nhà ở và kiểu nhà là các biến đại diện cho điều kiện nhà ở. Sự hiện diện của vườn cây lâu năm, gia súc cày kéo, chuồng trại chăn nuôi, máy cày, máy kéo, thuyền máy, máy bơm nước, máy say, máy sát, v.v… được coi là chỉ báo của tài sản sản xuất.