Luận văn thạc sĩ đo lường và đánh giá trong giáo dục đánh giá năng lực tự học của sinh viên các ngành sư phạm được đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường đại học sư phạm đà nẵng

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu đo lường và đánh giá trong giáo dục đánh giá năng lực tự học của sinh viên các ngành sư phạm được, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại học Sư Phạm Đà Nẵng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

126
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về năng lực tự học

Năng lực tự học là một yếu tố quan trọng trong quá trình học tập của sinh viên, đặc biệt là sinh viên sư phạm. Năng lực tự học không chỉ giúp sinh viên tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả mà còn phát triển tư duy độc lập và khả năng giải quyết vấn đề. Theo nghiên cứu, sinh viên sư phạm cần có nhận thức đúng về vai trò của việc tự học trong việc hình thành và phát triển năng lực giảng dạy sau này. Việc đánh giá năng lực tự học của sinh viên tại ĐH Sư Phạm Đà Nẵng cho thấy rằng nhiều sinh viên vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc tự học. Điều này có thể ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và sự phát triển nghề nghiệp của họ trong tương lai.

1.1. Định nghĩa và vai trò của năng lực tự học

Năng lực tự học được định nghĩa là khả năng tự tổ chức, quản lý và thực hiện quá trình học tập của bản thân. Đối với sinh viên sư phạm, năng lực tự học không chỉ là việc tiếp thu kiến thức mà còn là khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn giảng dạy. Việc phát triển năng lực tự học giúp sinh viên trở thành những giáo viên có khả năng tự nghiên cứu, tự cập nhật kiến thức mới và truyền đạt hiệu quả cho học sinh. Theo một nghiên cứu gần đây, sinh viên có năng lực tự học cao thường có kết quả học tập tốt hơn và khả năng thích ứng với môi trường làm việc sau này cũng tốt hơn.

II. Đánh giá thực trạng năng lực tự học của sinh viên

Đánh giá thực trạng năng lực tự học của sinh viên sư phạm tại ĐH Sư Phạm Đà Nẵng cho thấy nhiều vấn đề cần được cải thiện. Nhiều sinh viên vẫn chưa có thói quen tự học thường xuyên và chưa biết cách xây dựng kế hoạch học tập hiệu quả. Kết quả khảo sát cho thấy chỉ một phần nhỏ sinh viên có thể tự đánh giá và điều chỉnh phương pháp học tập của mình. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình đào tạo và hỗ trợ để nâng cao năng lực tự học cho sinh viên. Việc này không chỉ giúp sinh viên cải thiện kết quả học tập mà còn chuẩn bị cho họ những kỹ năng cần thiết trong công việc sau này.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học của sinh viên, bao gồm phương pháp giảng dạy của giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất và môi trường học tập. Sinh viên cũng cho biết rằng sự hỗ trợ từ giảng viên và bạn bè có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực tự học. Ngoài ra, các yếu tố cá nhân như động lực học tập, thói quen và kỹ năng tự quản lý thời gian cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng tự học của sinh viên. Việc nhận diện và phân tích các yếu tố này sẽ giúp các nhà quản lý giáo dục có những biện pháp phù hợp để nâng cao chất lượng đào tạo.

III. Giải pháp nâng cao năng lực tự học

Để nâng cao năng lực tự học của sinh viên sư phạm tại ĐH Sư Phạm Đà Nẵng, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía nhà trường và giảng viên. Một trong những giải pháp quan trọng là cải tiến phương pháp giảng dạy, khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động học tập chủ động và tự nghiên cứu. Bên cạnh đó, việc tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm về kỹ năng tự học cũng rất cần thiết. Các giảng viên cần tạo điều kiện cho sinh viên thực hành các kỹ năng tự học thông qua các bài tập nhóm, dự án nghiên cứu và các hoạt động ngoại khóa.

3.1. Tăng cường hỗ trợ từ giảng viên

Giảng viên đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn và hỗ trợ sinh viên phát triển năng lực tự học. Cần có các chương trình đào tạo cho giảng viên về cách thức hỗ trợ sinh viên trong việc tự học. Việc tạo ra một môi trường học tập thân thiện, khuyến khích sinh viên đặt câu hỏi và tìm kiếm thông tin sẽ giúp sinh viên tự tin hơn trong việc học tập. Hơn nữa, giảng viên cũng nên thường xuyên tổ chức các buổi phản hồi để sinh viên có thể chia sẻ những khó khăn trong quá trình tự học và nhận được sự hỗ trợ kịp thời.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ đo lường và đánh giá trong giáo dục đánh giá năng lực tự học của sinh viên các ngành sư phạm được đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường đại học sư phạm đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Tự học không phải là vấn đề mới trong lý luận và thực tiễn dạy học, đã có rất nhiều quan điểm, tư tưởng và công trình nghiên cứu về tự học dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau. Dù ở góc độ nào thì nhìn chung đều nhấn mạnh tính chủ động, tích cực của người học để chiếm lĩnh tri thức. Ở nước ngoài Người đặt nền móng cho ý thức về hoạt động tự học là nhà giáo dục người cộng hòa Séc J.

Cùng với việc “đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán của người học”, Komensky đã tìm ra phương pháp cho phép giáo viên giảng ít hơn, học sinh học nhiều hơn. Ông khẳng định: “Không có khát vọng học tập, không có khát vọng suy nghĩ thì sẽ không thể trở thành tài năng” [23]. Vào thế kỷ XVIII – XIX, một số nhà giáo dục lỗi lạc như J. Dewey (1859-1952), … đã hướng việc phát huy yếu tố tiềm ẩn trong cá nhân con người, nhấn mạnh phương thức học tập bằng con đường tích cực tìm tòi, khám phá, nỗ lực của bản thân để giành lấy tri thức.

Những tư tưởng đó được các nhà giáo dục thế hệ sau này tiếp thu và phát triển thành các phương pháp dạy học tích cực, phát huy tính tích cực, tự chủ của HS [23]. Vào thế kỷ XX, các nhà giáo dục tiếp tục kế thừa và phát triển những thành tựu trước đó, đã tạo ra một giai đoạn phát triển rực rỡ về lý luận dạy học. Những nhà giáo dục tên tuổi như X. Disterver … đã nghiên cứu về vấn đề tự học và đưa ra vấn đề tự học như thế nào; cách độc lập nghiên cứu khoa học; cách suy nghĩ tìm tòi; cách sáng tạo; … [23] N.

Rubakin (1862-1946) trong tác phẩm “Tự học như thế nào” đã nhấn mạnh vai trò và thái độ tích cực tự học của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức. Rubakin đã thấy rõ vai trò của yếu tố động cơ trong tự học của HS. Muốn người học học tập có kết quả thì trong dạy học phải giáo dục con người có động cơ đúng đắn 14 trong tự học. Ông khẳng định: “Việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để HS tích cực, chủ động trong tự học”.

Rubakin kết luận rằng: Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời - đó chính là phương pháp tự học. Tuy nhiên, chỉ có động cơ thôi vẫn chưa đủ mà người học cần phải có kỹ năng tự học thì mới tự học có hiệu quả [20]. Vào những năm 70 của thế kỷ XX, I. Kharlamop khẳng định rằng: tự học đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu quả cho hoạt động trí tuệ của SV.

Hoạt động tự học diễn ra theo cách tăng cường nghiên cứu, làm việc với tài liệu học tập, dạy học nêu và giải quyết vấn đề, cải tiến công tác tự học, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, …[11]. Năm 1994, Raja Roy Singh- nhà giáo dục người Ấn Độ, trong cuốn sách “Giáo dục thế kỷ XX: Những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương” đã nghiên cứu vai trò của tự học của người học và đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trong học tập thường xuyên và học tập suốt đời, trong việc hình thành và phát huy năng lực tự học của người học [21]. Năm 1996, Uỷ ban quốc tế về Giáo dục cho Thế kỷ XXI do Jacque Delor làm Chủ tịch đưa ra một báo cáo khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển tương lai của cá nhân, dân tộc và nhân loại. Báo cáo này nhấn mạnh giáo dục là “kho báu tiềm ẩn” và đã đưa ra một tầm nhìn về giáo dục cho thế kỷ XXI dựa trên bốn trụ cột (học để biết, học để làm, học để khẳng định mình, học để cùng chung sống) cũng đã khẳng định tầm quan trong của tự học trong xã hội đầy tính cạnh tranh và trong thời đại bùng nổ của tri thức khoa học, công nghệ như hiện nay [32].

Ở trong nước GS. TSKH Nguyễn Cảnh Toàn trong cuốn “Quá trình dạy – tự học” (1997) và “Học và dạy cách học” (2002) đã dày công nghiên cứu về tự học, ông định nghĩa: tự học là tự mình động não, tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ (như giám sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, …) và có khi cả năng lực cơ bắp (như khi phải sử dụng công cụ, …) cùng các phẩm chất cá nhân của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế 15 giới quan (như trung thực, khách quan, cầu tiến, …) để chiếm lĩnh một lĩnh vực, hiểu biết nào đó của nhân loại, biến nó thành sở hữu của mình”. Theo ông, “Tự học thường được hiểu là học với sách, không có thầy bên cạnh. Nhưng hiểu như vậy là hơi hẹp.

Ngay cả khi có thầy bên cạnh, thì thầy cũng chỉ giảng giải, uốn nắn, chứ thầy đâu có học hộ trò. Dạy, dù sao, cũng chỉ là ngoại lực tác động đến trò. Ngoại lực đó phải có sự cộng hưởng của nội lực cố gắng của học trò. Sự cố gắng này mới đúng là tự học”.

Như vậy, tự học có thể xảy ra khi có thầy, có sách, cả khi không có thầy, có sách. Tác giả Đặng Thành Hưng trong tác phẩm “Một số vấn đề về phương pháp dạy học” (2000) đã đề cập đến khái niệm “học độc lập”. Học độc lập là nhu cầu của người học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường và nếu nhu cầu này phát triển tốt thì khả năng học độc lập sau này của người học sẽ là con đường bảo đảm nhất, hiệu quả nhất việc học thường xuyên, học suốt đời của họ” [6]. Tác giả Trịnh Quốc Lập trong bài báo khoa học “Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam” (2008) đăng trên tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ đã cho rằng năng lực tự học không chỉ là một phẩm chất dành cho người học thuộc thế giới phương Tây, về bản chất mà nói, sinh viên châu Á không phải là không có năng lực tự học; hệ thống giáo dục ở các nước châu Á chưa tạo đủ điều kiện để sinh viên phát triển năng lực tự học.

Kết quả nghiên cứu của tác giả bài viết này đã chứng minh rằng trong hoàn cảnh Việt Nam năng lực tự học có thể được phát triển thông qua việc ứng dụng học tập tự điều chỉnh [14]. Luận văn tiến sĩ của Nguyễn Thị Tính về đề tài “Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn giáo dục học cho SV các trường đại học sư phạm”, tác giả kết luận: Tự học là học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao. Tự học môn giáo dục học mang tính đặc thù của bộ môn Nghiệp vụ sư phạm, vì vậy tự học môn giáo dục học là quá trình tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng kỹ xảo, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và hình thành tình cảm, thái độ nghề nghiệp của SV dưới vai trò chủ đạo của cán bộ giảng dạy môn giáo dục học. Tự học có thể diễn ra ở trên lớp, hoặc trong quá trình tự học ở nhà, hoặc trong các hoạt động ngoại khóa.

Ba khâu này 16 có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau không thể tách rời. Nó bổ sung kết quả cho nhau [24]. Tác giả Đậu Thị Hòa trong bài báo khoa học “Phương pháp rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên địa lý trong dạy học học phần địa lí tự nhiên Việt Nam” (2010) đăng trên tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 4(39).2010 cũng tập trung vào sử dụng một số phương pháp dạy học nhằm rèn luyện kỹ năng tự học, giúp người học không chỉ học ở trường lớp mà có khả năng tự học suốt đời [5]. Nhìn chung, các nhà giáo dục đã tập trung nghiên cứu sâu vấn đề tự học dưới nhiều góc độ khác nhau.

Các tác giả đã đưa ra nhiều những kỹ năng tự học cho người học. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về thực trạng năng lực tự học của sinh viên ngành sư phạm và dùng phương pháp định lượng để đánh giá sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên ngành sư phạm. Một số lý thuyết về dạy và học Phần này sẽ khảo sát một số lý thuyết về giảng dạy và học tập, đó là Học tập chủ động, Học tập hợp tác, Dạy học theo chủ đề, Dạy học phát huy chức năng toàn não bộ, Lý thuyết điều khiển, Dạy học với sự trợ giúp của thiết bị kỹ thuật tiên tiến. Lý thuyết học tập chủ động (HTCĐ) Lý thuyết học tập chủ động cho rằng mọi trẻ em đều có thể học được khi chúng được cung cấp các điều kiện học tập một cách thích hợp trong lớp.

Lý thuyết này dựa trên mô hình học tập chủ động của Benjamin Bloom. Học tập chủ động là phương pháp học chủ yếu dựa theo nhóm, GV chỉ đóng vai trò hướng dẫn để SV hợp tác với nhau trong học tập. Tuy nhiên, có một số chiến lược của lý thuyết học chủ động đòi hỏi SV phải làm việc một cách độc lập. Về mặt chương trình: HTCĐ không tập trung vào nội dung mà chỉ chú ý đến quá trình lĩnh hội nội dung ấy.

Loại học tập này phù hợp với chương trình hướng vào nội dung, dựa trên các mục tiêu học tập đã xác định sẵn để tổ chức thành các học phần nhỏ hơn. 17 Về phương pháp giảng dạy: GV hướng dẫn một loạt các kỹ thuật học tập theo nhóm, đồng thời thường xuyên nhận thông tin phản hồi từ SV bằng cách thường xuyên thực hiện các loại trắc nghiệm khác nhau. GV định kỳ sửa chữa lỗi cho SV, đánh giá SV bằng trắc nghiệm theo tiêu chí (criterion-referenced tests) hơn là trắc nghiệm theo chuẩn (norm-referenced tests) [4]. Lý thuyết học tập hợp tác (HTHT) HTHT bao gồm các kỹ thuật dạy học đòi hỏi một sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người học để cho việc học có thể xảy ra.

Các mô hình của tương tác giữa SV được gọi là cấu trúc. GV và SV cùng nhau xây dựng một “kịch bản” cho cấu trúc này. Vì vậy khi GV yêu cầu lớp dùng một phương pháp nào đó để tìm hiểu bài học hôm nay thì SV sẽ biết được loại tương tác nào cần sử dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá năng lực tự học của sinh viên sư phạm tại ĐH Sư Phạm Đà Nẵng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về khả năng tự học của sinh viên trong lĩnh vực sư phạm, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng tự học trong giáo dục. Bài viết không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học mà còn đưa ra những khuyến nghị thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả học tập cho sinh viên. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc cải thiện năng lực tự học không chỉ giúp sinh viên tự tin hơn trong việc tiếp thu kiến thức mà còn chuẩn bị tốt hơn cho sự nghiệp giảng dạy sau này.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và phát triển năng lực học tập, hãy tham khảo bài viết "Dạy học khám phá chủ đề hình học trực quan lớp 6 theo hướng phát triển năng lực tư duy lập luận toán học luận văn thạc sĩ sư phạm toán học". Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp dạy học sáng tạo.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ phương pháp giảng dạy tiếng anh developing fluency in spoken english of the 10th graders via interviewing technique an action research project at a high school in bac giang province", nơi cung cấp những phương pháp giảng dạy tiếng Anh hiệu quả, giúp sinh viên nâng cao khả năng giao tiếp.

Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ dạy học viết sáng tạo cho học sinh tiểu học" sẽ mang đến cho bạn những ý tưởng mới mẻ trong việc phát triển kỹ năng viết cho học sinh, từ đó góp phần vào việc hình thành năng lực tự học cho các em.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều hướng đi mới trong việc giảng dạy và học tập.