Tổng quan nghiên cứu

Quản lý chất thải rắn y tế là nhiệm vụ trọng yếu trong kiểm soát nhiễm khuẩn và bảo vệ môi trường tại các cơ sở khám chữa bệnh. Theo ước tính của ngành y tế, mỗi ngày các bệnh viện trên toàn quốc phát sinh khoảng 400 đến 500 tấn chất thải y tế, trong đó chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 10% (tương đương 40 đến 45 tấn). Tại tỉnh Sóc Trăng, tổng khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh ước tính khoảng 197 tấn/năm, bao gồm 131 tấn/năm từ các cơ sở y tế công lập và 66 tấn/năm từ khối ngoài công lập. Khi không được xử lý an toàn, nguồn chất thải này tích tụ lâu dài trong môi trường đất, nước, không khí và làm tăng nguy cơ lan truyền các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và HIV/AIDS.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định tỷ lệ các bệnh viện công lập trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng thực hiện đúng quy chế quản lý chất thải rắn y tế trong giai đoạn 2018 - 2019.
  2. Xác định tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức, thực hành đúng về quản lý chất thải rắn y tế và phân tích các yếu tố liên quan tại các bệnh viện công lập.
  3. Đánh giá kết quả can thiệp truyền thông và đào tạo sau 6 tháng đối với nhóm cán bộ y tế có kiến thức hoặc thực hành chưa đạt chuẩn.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại 10 cơ sở y tế công lập trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, bao gồm các bệnh viện tuyến tỉnh và 5 bệnh viện thuộc trung tâm y tế tuyến huyện, thị xã, thành phố trong khoảng thời gian từ tháng 5/2018 đến tháng 5/2019. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp các chỉ số đo lường chuẩn xác, hỗ trợ các nhà quản lý y tế tại địa phương xây dựng giải pháp can thiệp nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ quy chế kiểm soát chất thải lên trên 85% và bảo vệ an toàn sức khỏe nghề nghiệp cho hơn 3.000 cán bộ y tế toàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế Việt Nam kết hợp cùng hướng dẫn kỹ thuật của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Phân loại chất thải rắn y tế được chuẩn hóa thành 5 nhóm chính: chất thải lâm sàng lây nhiễm (bao gồm chất thải sắc nhọn, lây nhiễm không sắc nhọn, nguy cơ lây nhiễm cao, chất thải giải phẫu và mô cơ quan), chất thải hóa học (dược phẩm quá hạn, chất gây độc tế bào, hóa chất nguy hại, kim loại nặng), chất thải phóng xạ, bình chứa khí có áp suất và chất thải sinh hoạt thông thường.

Mô hình lý thuyết hành vi và nhận thức (KAP - Knowledge, Attitude, Practice) được ứng dụng để phân tích mối tương quan giữa kiến thức chuyên môn, thái độ tuân thủ và kỹ năng thực hành phân loại của nhân viên y tế. Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, hệ thống dụng cụ thu gom được mã hóa theo 4 màu sắc bắt buộc: màu vàng cho chất thải lây nhiễm, màu đen cho chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ, màu xanh cho chất thải thông thường, và màu trắng cho chất thải có thể tái chế.

Bên cạnh đó, nghiên cứu áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật về xử lý ban đầu chất thải nguy cơ lây nhiễm cao thông qua phương pháp ngâm hóa chất khử khuẩn (dung dịch Cloramin B 1-2% hoặc Javen 1-2% tối thiểu 30 phút), đun sôi liên tục ít nhất 15 phút, khử khuẩn bằng nhiệt ướt (autoclave), vi sóng, thiêu đốt nhiệt độ cao hoặc công nghệ trơ hóa với tỷ lệ phối trộn tiêu chuẩn gồm 65% chất thải hóa học, 15% vôi, 15% xi măng và 5% nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp với nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe trước và sau can thiệp (Pre-post intervention study). Tiến trình nghiên cứu được chia làm 3 giai đoạn chính: khảo sát ban đầu (tháng 5/2018 - tháng 8/2018), can thiệp truyền thông trực tiếp và đào tạo (tháng 9/2018 - tháng 3/2019), và đánh giá hiệu quả sau can thiệp 6 tháng (tháng 4/2019 - tháng 5/2019).

Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu được xác định cụ thể theo từng mục tiêu:

  • Đối với mục tiêu 1: Điều tra toàn bộ các bệnh viện công lập tuyến tỉnh và chọn ngẫu nhiên 5/10 bệnh viện thuộc trung tâm y tế tuyến huyện, thị xã, thành phố (gồm Mỹ Xuyên, Mỹ Tú, Ngã Năm, Kế Sách và Châu Thành), tổng cộng khảo sát 10 cơ sở y tế.
  • Đối với mục tiêu 2: Cỡ mẫu lý thuyết được tính toán là 266 nhân viên, sau khi nhân với hệ số thiết kế D = 1,2 để hạn chế sai số chọn mẫu theo cụm, cỡ mẫu yêu cầu là 320 người. Thực tế đã tiến hành điều tra trên 355 cán bộ y tế (phân bổ từ 30 đến 36 nhân viên trên mỗi cơ sở y tế), bao gồm bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quản lý chất thải.
  • Đối với mục tiêu 3: Chọn toàn bộ 193 cán bộ y tế có kiến thức chưa đúng và 24 cán bộ có thực hành chưa đúng từ mục tiêu 2 để đưa vào chương trình can thiệp tập huấn.

Nguồn dữ liệu được thu thập qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc, kết hợp quan sát thực địa bằng bảng kiểm chuẩn hóa 10 tiêu chí quản lý chất thải và cân đo khối lượng phát sinh rác liên tục trong 7 ngày. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên ngành, sử dụng phép kiểm định Chi-square và tính toán tỷ số chênh (OR) để phân tích các yếu tố liên quan. Hiệu quả can thiệp được định lượng qua chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQCT) tính theo công thức phần trăm thay đổi tỷ lệ trước và sau can thiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu tại 10 bệnh viện công lập tỉnh Sóc Trăng ghi nhận nhiều kết quả thực trạng đáng chú ý:

  • Cơ cấu thành phần chất thải: Tỷ lệ chất thải sinh hoạt chiếm khoảng 75% và chất thải y tế chiếm khoảng 25% trong tổng lượng rác phát sinh hàng ngày tại các cơ sở khám chữa bệnh. Khối lượng chất thải phân loại đúng quy trình kỹ thuật tại nguồn ước tính chỉ đạt khoảng 65%.
  • Thực trạng cơ sở hạ tầng: Chỉ có 33,3% cơ sở y tế thực hiện đúng toàn diện các quy định về bao bì, dụng cụ thu gom và vận chuyển chất thải. Tỷ lệ cơ sở bố trí vị trí lưu giữ đạt chuẩn (cách xa buồng bệnh và nhà ăn tối thiểu 10 mét, có mái che, tường rào, hệ thống thoát nước) đạt 50%.
  • Kiến thức của cán bộ y tế: Tỷ lệ cán bộ có kiến thức chung đúng về quản lý chất thải rắn y tế đạt 45,6%, trong khi vẫn còn 54,4% (193/355 người) có kiến thức chưa đạt. Đáng lưu ý, tỷ lệ cán bộ hiểu đúng về phân loại 5 nhóm chất thải y tế chỉ đạt 37,1%, và hiểu biết về quy trình xử lý chất thải hóa học chỉ đạt dưới 45%.
  • Thực hành và can thiệp: Tỷ lệ thực hành chung đạt yêu cầu trước can thiệp là 93,2% (331/355 cán bộ), còn 6,8% (24/355 cán bộ) thực hành chưa đúng, chủ yếu xảy ra ở khâu thu gom chất thải sắc nhọn và phân loại rác tái chế. Sau 6 tháng can thiệp đào tạo trực tiếp, tỷ lệ cán bộ có kiến thức chưa đúng giảm từ 54,4% xuống mức dưới 15% (chỉ số hiệu quả can thiệp đạt trên 72%), và tỷ lệ thực hành chưa đúng giảm xuống dưới 1,5%.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu phản ánh bức tranh toàn diện về công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện công lập vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Dữ liệu thực trạng được hệ thống hóa qua các bảng kiểm chi tiết và biểu đồ so sánh đa chiều. Khi phân tích biến số chức danh nghề nghiệp, nhóm điều dưỡng và bác sĩ có tỷ lệ hiểu biết đúng về mã màu thu gom cao hơn rõ rệt so với nhóm kỹ thuật viên và hộ lý (điều dưỡng đạt trên 52%, trong khi nhóm kỹ thuật viên chỉ đạt 3,4% ở một số nội dung phân loại chất thải hóa học). Nguyên nhân xuất phát từ việc điều dưỡng là lực lượng thực hiện trực tiếp các quy trình tiêm truyền và thủ thuật lâm sàng hàng ngày.

Phân tích mối tương quan cho thấy việc tham gia tập huấn định kỳ có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng thực hành (p < 0,05). Những cán bộ y tế từng tham dự các lớp đào tạo chuyên môn về chất thải y tế có xác suất thực hành đúng cao gấp 2,8 lần so với nhóm chưa được tập huấn. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu tại Vĩnh Long, Long An và Kiên Giang, nơi tỷ lệ cán bộ hiểu sai về mã màu và quy trình khử khuẩn ban đầu vẫn chiếm từ 40% đến 55%.

Mô hình can thiệp truyền thông trực tiếp đã chứng minh tính hiệu quả vượt trội. Sự chuyển biến tích cực của 193 nhân viên từ nhóm kiến thức chưa đúng sang đạt chuẩn cho thấy công tác đào tạo liên tục, kết hợp giám sát trực tiếp tại khoa phòng, là đòn bẩy quan trọng nhất để xóa bỏ các lỗ hổng thực hành và ngăn chặn nguy cơ lây nhiễm chéo trong môi trường y tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất thải rắn y tế:

  1. Chuẩn hóa trang thiết bị và hạ tầng thu gom tại nguồn: Đầu tư bổ sung 100% thùng chứa chất thải đạt chuẩn có nắp đậy, bàn đạp chân và dán nhãn phân loại theo 4 mã màu quy định (vàng, đen, xanh, trắng) tại tất cả các khoa phòng. Cải tạo, nâng cấp nhà lưu giữ chất thải đảm bảo khoảng cách an toàn trên 10 mét so với khu điều trị và nhà ăn. Mục tiêu hoàn thành trong 6 tháng đầu năm 2020 do Sở Y tế tỉnh Sóc Trăng và Ban Giám đốc các bệnh viện chủ trì.
  2. Thiết lập chương trình đào tạo và tập huấn chuyên môn định kỳ: Tổ chức tối thiểu 02 khóa tập huấn/năm về quy chế quản lý chất thải và an toàn lao động cho 100% nhân viên y tế, đặc biệt ưu tiên nhóm hộ lý, nhân viên thu gom và kỹ thuật viên mới tuyển dụng. Phấn đấu nâng tỷ lệ kiến thức đúng lên trên 90% và duy trì tỷ lệ thực hành đúng trên 98% vào cuối năm 2020 do Phòng Kế hoạch Tổng hợp và Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn phối hợp thực hiện.
  3. Tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm toán chất thải nội bộ: Xây dựng bảng kiểm giám sát hàng tuần tại các khoa phòng lâm sàng, gắn tiêu chí phân loại và thu gom rác thải y tế vào đánh giá thi đua tháng của từng đơn vị. Đặt mục tiêu giảm tỷ lệ sai sót phân loại xuống dưới 3% trong vòng 12 tháng, do Mạng lưới Kiểm soát nhiễm khuẩn chịu trách nhiệm.
  4. Tối ưu hóa nguồn kinh phí và hoàn thiện quy trình xử lý chuyên nghiệp: Xây dựng dự toán ngân sách hàng năm riêng cho công tác xử lý chất thải y tế, ký hợp đồng vận chuyển định kỳ 24-48 giờ/lần với các công ty môi trường đô thị đạt chuẩn để xử lý an toàn 197 tấn chất thải nguy hại phát sinh mỗi năm trên toàn tỉnh, hoàn thành phê duyệt trong quý IV hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Ban Giám đốc và cán bộ quản lý bệnh viện: Cung cấp khung đánh giá 10 tiêu chí chuẩn mực về cơ sở hạ tầng, giúp lãnh đạo bệnh viện quy hoạch hệ thống nhà lưu giữ, tối ưu hóa quy trình phân loại tại nguồn và phân bổ ngân sách kiểm soát nhiễm khuẩn hợp lý.
  • Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn và mạng lưới điều dưỡng trưởng: Sử dụng trực tiếp bộ câu hỏi phỏng vấn, bảng kiểm giám sát thực địa và tài liệu tập huấn can thiệp làm giáo trình chuẩn để đào tạo thường quy cho nhân viên y tế tại cơ sở.
  • Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Y tế, Y tế Công cộng: Tham khảo thiết kế nghiên cứu can thiệp kết hợp mô tả cắt ngang, phương pháp tính cỡ mẫu với hệ số thiết kế D = 1,2 và kỹ thuật tính toán chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQCT).
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Y tế, Sở Tài nguyên và Môi trường): Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về tình hình phát sinh 197 tấn chất thải y tế nguy hại/năm tại địa phương, phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới xử lý chất thải tập trung trên toàn tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Quy định về mã màu của dụng cụ và túi chứa chất thải rắn y tế tại bệnh viện gồm những màu nào?
Theo quy chế của Bộ Y tế, dụng cụ thu gom được phân định rõ thành 4 màu: màu vàng đựng chất thải lây nhiễm, màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ, màu xanh đựng chất thải sinh hoạt thông thường, và màu trắng đựng chất thải có khả năng tái chế.

Thời gian lưu giữ chất thải y tế nguy hại tối đa tại các cơ sở y tế là bao lâu?
Thời gian lưu giữ chất thải y tế nguy hại trong khuôn viên cơ sở y tế không được vượt quá 48 giờ ở điều kiện nhiệt độ thường. Trường hợp cơ sở y tế có trang bị thiết bị bảo quản lạnh chuyên dụng hoặc thùng lạnh đạt chuẩn, thời gian lưu giữ có thể kéo dài tối đa đến 72 giờ.

Chất thải y tế có nguy cơ lây nhiễm cao cần được xử lý ban đầu tại chỗ như thế nào trước khi thu gom?
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ phòng xét nghiệm phải được xử lý an toàn ngay tại nơi phát sinh thông qua việc khử khuẩn bằng hóa chất (ngâm Cloramin B 1-2% hoặc Javen 1-2% tối thiểu 30 phút), khử khuẩn bằng hơi nóng hoặc đun sôi liên tục ít nhất 15 phút trước khi chuyển về nơi lưu giữ chung.

Tại sao nghiên cứu lại áp dụng hệ số thiết kế D = 1,2 khi xác định cỡ mẫu điều tra?
Do nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp theo cụm tại 10 cơ sở y tế khác nhau, việc nhân hệ số thiết kế D = 1,2 giúp bù trừ hiệu ứng thiết kế (design effect), hạn chế sai số chọn mẫu và nâng quy mô mẫu từ 266 lên 320 người nhằm đảm bảo tính đại diện thống kê cao nhất.

Những yếu tố nào tác động mạnh nhất đến kiến thức và thực hành quản lý chất thải của nhân viên y tế?
Nghiên cứu chỉ ra rằng trình độ chuyên môn, chức danh nghề nghiệp, thâm niên công tác và đặc biệt là tần suất tham gia các lớp tập huấn có mối liên quan chặt chẽ với mức độ tuân thủ. Cán bộ được tập huấn chuyên môn định kỳ có tỷ lệ thực hành đúng cao hơn rõ rệt so với nhóm không được đào tạo (p < 0,05).

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại 10 cơ sở y tế công lập tỉnh Sóc Trăng, lượng hóa khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn là 197 tấn/năm.
  • Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ cán bộ y tế có kiến thức chưa đạt chuẩn chiếm 54,4% (193/355 người) và tỷ lệ thực hành chưa đúng chiếm 6,8% (24/355 người) ở giai đoạn trước can thiệp.
  • Xác định rõ các yếu tố liên quan then chốt gồm chức danh chuyên môn, trình độ học vấn và việc tham gia tập huấn định kỳ tác động trực tiếp đến kỹ năng phân loại rác tại nguồn.
  • Mô hình can thiệp đào tạo trực tiếp sau 6 tháng đã chứng minh hiệu quả vượt trội, giúp hạ tỷ lệ kiến thức chưa đúng từ 54,4% xuống dưới 15% với chỉ số hiệu quả can thiệp đạt trên 72%.
  • Công trình đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược về hạ tầng, đào tạo, giám sát và kinh phí, tạo tiền đề vững chắc cho việc chuẩn hóa công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện công lập.

Để duy trì tính bền vững của các kết quả nghiên cứu, các bệnh viện công lập cần tiếp tục triển khai các khóa đào tạo lại định kỳ hàng năm và hoàn thiện hệ thống bảng kiểm đánh giá tự động trong giai đoạn tiếp theo.