Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về chất thải rắn y tế 1. Các khái niệm về chất thải y tế Chất thải y tế: là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, nghiên cứu, của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế (3). Chất thải y tế thông thường: là chất thải phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế (2).
Chất thải y tế nguy hại: là chất thải gồm các thành phần như máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, các cơ quan, bơm tiêm, vật sắc nhọn, dược phẩm hóa chất, chất phóng xạ. cần lưu giữ, xử lý theo rác nguy hại, thải bỏ đặc biệt, có quy định riêng (3). Chất thải y tế nằm trong Danh mục A của danh mục chất thải nguy hại và có mã số A4020-Y1 theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 (5). Rác y tế là phần chất thải y tế ở dạng rắn, không tính chất lỏng và khí được thu gom và xử lý riêng.
Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế (2). Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện (2). Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế (2). Cơ sở y tế bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ phòng khám bác sĩ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); cơ sở y tế dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học (6).
Phân loại chất thải y tế 1. Phân loại chất thải y tế theo Tổ chức Y tế thế giới Tổ chức Y tế thế giới chia chất thải y tế phân thành 8 loại (7): a) Chất thải nhiễm trùng: là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng với số lượng đủ để gây bệnh cho những người dễ bị cảm nhiễm, bao gồm các loại: Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm; chất thải từ phòng mổ, nhất là phòng mổ tử thi và NB bị nhiễm trùng; chất thải từ phòng cách ly NB bị nhiễm trùng; súc vật được tiêm, truyền trong phòng thí nghiệm; dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với NB bị truyền nhiễm. b) Chất thải sắc nhọn: là chất thải có thể làm rách hoặc tổn thương da bao như bơm kim tiêm, dao mổ, bộ tiêm truyền. c) Chất thải dược phẩm: là thuốc quá hạn, thuốc không dùng như các loại vacxin, huyết thanh, kể cả chai, lọ đựng chúng.
d) Chất thải có tính độc với tế bào: là chất thải có thể làm biến đổi gen, gây quái thai như các chất chống ung thư. e) Chất thải hóa học: có thể dưới dạng rắn, lỏng hoặc khí được sinh ra trong quá trình chẩn đoán, điều trị, tẩy rửa, khử trùng bao gồm: Hóa chất độc, hóa chất có tính ăn mòn (pH<2 hoặc pH>12); hóa chất dễ gây nổ. f) Chất thải chứa kim loại nặng, độc như chì, thủy ngân, asen. g) Các bình chứa khí nén được dùng trong y tế dưới dạng khí như oxy, khí gây mê.
h) Chất phóng xạ: không thể phát hiện bằng các giác quan, chúng thường gây ảnh hưởng lâu dài (gây ion hóa tế bào) như tia X, tia α, tia β (7). Phân loại theo tính chất của chất thải a) Chất thải lây nhiễm (sắc nhọn và không sắc nhọn) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, kim chọc dò, kim châm cứu, lưỡi dao mổ, đinh, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác (3). Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: bao gồm chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể, các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. Chất thải 6 có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên.
Chất thải giải phẫu bao gồm mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm (3). b) Chất thải nguy hại không lây nhiễm Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại, dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất, thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng, chất hàn răng amalgam thải bỏ, chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT) (8). c) Chất thải y tế thông thường Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế, Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải y tế nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại (3). Chất thải y tế thông thường có thể được tái chế sử dụng hoặc không được tái chế.
Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế 1. Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe Ngày nay, bệnh viện, các cơ sở y tế được cho là môi trường có nguy cơ gây rủi ro cho sức khỏe con người. CTYT có thể gây tác động xấu đến sức khỏe con người như lây bệnh qua đường máu cho nhân viên y tế, đặc biệt sự cố do vật sắc nhọn. Dạng phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất qua đường máu của nhân viên y tế trong quá trình thực hiện quản lý chất thải là bị kim tiêm lây nhiễm hay bị dịch bệnh tiếp xúc vào vết thương…(2), Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thương kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV…(2) 7 Ảnh hưởng của chất thải y tế lây nhiễm là do có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B… Chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua da: (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) (2).
Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng… Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi… có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa,. gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận (9). Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường: tiếp xúc trực tiếp, hít phải bụi và các sol khí, qua da, qua đường tiêu hóa, tiếp xúc trực tiếp với chất thải dính thuốc gây độc tế bào, tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu (9). Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu.
Một số chất gây độc tế bào có thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt là da và mắt, một số triệu chứng thường gặp là chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da. Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc. Trong bệnh viện, các chất phóng xạ thường có chu kỳ bán rã ngắn (kéo dài từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần). Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất thường, ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và các vấn đề về di truyền (2).
Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường Chất thải y tế có thể tác động xấu tới tất cả các khía cạnh của môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí. Mặt khác, xử lý CTYT không đúng phương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên thiên nhiên (10). Đối với môi trường đất: Quản lý CTYT không đúng quy trình và việc tiêu hủy CTYT tại các bãi chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi 8 sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn (10). Đối với môi trường nước: Tác động của CTYT đối với các nguồn nước có thể so sánh với nước thải sinh hoạt.
Tuy nhiên, nước thải từ các cơ sở y tế còn có thể chứa Salmonella, Coliform, tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn Gram âm đa kháng, các hóa chất độc hại, chất hữu cơ, kim loại nặng.