Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống y tế công lập, hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn đi kèm với việc phát sinh lượng lớn chất thải y tế, bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải lây nhiễm, hóa chất độc hại, chất phóng xạ và nước thải y tế. Nếu không được quản lý, phân loại, thu gom và xử lý an toàn theo quy chuẩn kỹ thuật, các nguồn thải này sẽ trở thành tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và làm gia tăng nguy cơ lây truyền các bệnh nguy hiểm trong bệnh viện cũng như cộng đồng dân cư xung quanh.

Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An là cơ sở y tế tuyến huyện nằm tại trung tâm thị trấn Nước Hai, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Bệnh viện không chỉ thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân trong huyện mà còn tiếp nhận bệnh nhân chuyển tuyến từ các huyện lân cận thuộc vùng phía Bắc tỉnh Cao Bằng như Hà Quảng, Thông Nông, Nguyên Bình nhằm giảm tải cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng. Được xây dựng từ năm 1993 với quy mô ban đầu 70 giường bệnh, đến thời điểm nghiên cứu (năm 2014), bệnh viện đã mở rộng lên quy mô 115 giường bệnh thực tế. Sự gia tăng quy mô điều trị và số lượng người bệnh kéo theo sự gia tăng lưu lượng chất thải rắn và nước thải, trong khi cơ sở hạ tầng xử lý chất thải của bệnh viện còn nhiều hạng mục chưa đồng bộ và xuống cấp.

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Khoa học Môi trường của tác giả Triệu Hải Đăng (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Minh Cảnh) tập trung thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Đánh giá hiện trạng phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An.
  2. Xác định khối lượng và thành phần rác thải, đồng thời đánh giá sơ bộ tình hình thu gom, lưu giữ nước thải và khí thải phát sinh từ lò đốt chất thải y tế.
  3. Đánh giá nhận thức của đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế và bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về công tác quản lý chất thải rắn y tế.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp quản lý và kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả thu gom, giảm thiểu ô nhiễm và hoàn thiện công tác quản lý chất thải rắn y tế phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở y tế tuyến huyện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn y tế (chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải thông thường); hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị thu gom, vận chuyển, lưu giữ và lò đốt chất thải; hồ sơ, sổ sách quản lý chất thải; hệ thống thoát nước và lưu trữ nước thải; các nhóm người phơi nhiễm gồm cán bộ y tế (bác sĩ, điều dưỡng, y tá, kỹ thuật viên), nhân viên vệ sinh/hộ lý phụ trách lò đốt, cùng bệnh nhân và người nhà bệnh nhân.
  • Phạm vi không gian: Khuôn viên Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An, thị trấn Nước Hai, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (diện tích 11.980 m²).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu, điều tra và khảo sát thực địa được thực hiện từ ngày 02/03/2014 đến ngày 30/04/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở pháp lý, quy chuẩn kỹ thuật môi trường và lý thuyết chuyên ngành về quản lý chất thải y tế nguy hại:

  • Cơ sở pháp lý: Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 19/11/2005; Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn; Quyết định số 170/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025; Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế; Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.
  • Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng: QCVN 02:2012/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế); QCVN 05:2009/BTNMT (Chất lượng không khí xung quanh); QCVN 28:2010/BTNMT (Nước thải y tế); QCVN 02:2009/BYT (Chất lượng nước sinh hoạt); TCVN 7575:2005; TCVN 7957:2008; TCXDVN 365:2007.
  • Khung khái niệm và phân loại: Sử dụng phân nhóm chất thải theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT gồm 5 nhóm: Chất thải lây nhiễm (loại A - sắc nhọn, loại B - không sắc nhọn, loại C - nguy cơ lây nhiễm cao, loại D - giải phẫu); Chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, hóa chất độc tế bào, kim loại nặng); Chất thải phóng xạ; Bình chứa áp suất; Chất thải thông thường.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Kế thừa dữ liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từ UBND thị trấn Nước Hai và Phòng Thống kê huyện Hòa An; báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM); báo cáo tổng kết hoạt động năm 2013 và kế hoạch năm 2014 của Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An; số liệu quan trắc môi trường do Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Cao Bằng cung cấp.
  2. Phương pháp khảo sát, điều tra thực địa và phỏng vấn xã hội học:
    • Điều tra bằng phiếu hỏi in sẵn đối với 2 mẫu khảo sát: mẫu cán bộ, nhân viên bệnh viện ($n = 20$, gồm 18 nhân viên y tế và 2 nhân viên tổ vệ sinh) và mẫu bệnh nhân, người nhà bệnh nhân ($n = 30$).
    • Tiến hành cân xác định khối lượng chất thải rắn phát sinh tại từng khoa lâm sàng với tần suất 3 lần/tuần.
    • Quan sát trực tiếp quy trình phân loại tại nguồn, phương thức thu gom, cung đường vận chuyển nội viện, kho lưu trữ và quy trình vận hành lò đốt rác.
  3. Phương pháp tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu: Tổng hợp, thống kê toán học bằng phần mềm Microsoft Word và Excel; so sánh các chỉ tiêu đo đạc khí thải và chất lượng nước với các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng (QCVN).
  4. Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến đóng góp chuyên môn từ giảng viên hướng dẫn, cán bộ phụ trách môi trường của địa phương và nhân viên chuyên trách tại bệnh viện.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu bảo vệ môi trường bệnh viện tuyến huyện tại vùng miền núi. Tác giả trình bày mục đích nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An, nhận diện các tồn tại, rủi ro phơi nhiễm, từ đó đề xuất giải pháp kỹ thuật và tổ chức quản lý mang tính khả thi. Chương này cũng nêu rõ các yêu cầu về tính trung thực của số liệu, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung tư liệu nghiên cứu môi trường y tế địa phương và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại cơ sở.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các vấn đề lý luận về chất thải y tế, bao gồm định nghĩa, nguồn gốc phát sinh và tác hại đối với sức khỏe con người (nguy cơ lây truyền HIV, viêm gan B, viêm gan C từ vật sắc nhọn; tác động của hóa chất độc tế bào, dược phẩm và khí độc). Tổng quan phân tích hiện trạng toàn quốc với lượng chất thải rắn y tế khoảng 350 tấn/ngày, trong đó 100% bệnh viện tuyến trung ương, 88% tuyến tỉnh và 54% tuyến huyện sử dụng lò đốt hoặc thuê dịch vụ thu gom; đồng thời chỉ rõ chỉ có khoảng 40% số lò đốt trên cả nước đạt chuẩn kỹ thuật.

Đối với tỉnh Cao Bằng, toàn tỉnh có 15 bệnh viện đa khoa, 199 trạm y tế và 80 cơ sở khám chữa bệnh, thải ra khoảng 0,5 tấn rác thải y tế và $500\text{ m}^3$ nước thải mỗi ngày. Lò đốt rác tập trung công suất 400–500 kg/giờ của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng bị xuống cấp từ tháng 09/2010 dẫn đến tình trạng chất thải y tế tuyến tỉnh phải chuyển về thiêu đốt tại các lò đốt quy mô nhỏ (công suất khoảng 40 kg/ngày) của các bệnh viện huyện lân cận như Hòa An, Quảng Uyên, Thạch An, gây ra hiện tượng quá tải cục bộ.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng khảo sát gồm các dòng chất thải rắn y tế, nước thải, hệ thống thiết bị và các nhóm người phơi nhiễm tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An. Tác giả thiết lập kế hoạch nghiên cứu từ ngày 02/03/2014 đến ngày 30/04/2014, xác định 5 nội dung trọng tâm và chuẩn hóa 5 phương pháp thu thập, điều tra xã hội học ($n = 20$ cán bộ nhân viên và $n = 30$ người bệnh/người nhà) cùng phương pháp cân đo khối lượng thực tế và đối sánh quy chuẩn kỹ thuật.

Phần 4: Kết quả đạt được

Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực tế và phân tích hiện trạng tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An qua các nhóm nội dung:

  1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội và đặc điểm bệnh viện: Bệnh viện tọa lạc tại thị trấn Nước Hai, cách suối Bản Sẩy 200 m và cách sông Bằng Giang 400 m. Bệnh viện có 115 giường bệnh thực tế, cơ cấu nhân sự gồm 93 cán bộ (5 bác sĩ, 9 bác sĩ CKI, 6 dược sĩ, 15 y sĩ, 7 nữ hộ sinh trung học, 9 kỹ thuật viên trung học, 29 điều dưỡng các cấp, 7 hộ lý và 5 nhân sự khác).
  2. Hiện trạng nước thải và khí thải: Lưu lượng nước cấp và nước thải ước tính đạt trên $30\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$. Hệ thống xử lý nước thải y tế của bệnh viện chưa hoàn thiện; toàn bộ nước thải sinh hoạt và y tế vẫn lưu trữ tạm thời tại các bể tự hoại (bể phốt). Về khí thải, bệnh viện vận hành lò đốt chất thải rắn y tế LĐ-45 từ năm 2009 (công nghệ đốt 2 cấp kiểm soát luồng khí). Kết quả phân tích chất lượng không khí xung quanh lò đốt cho thấy các chỉ tiêu nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 02:2012/BTNMT (Tiếng ồn 56,3 dBA; Bụi tổng số $0,013\text{ mg/m}^3$; $\text{SO}_2$ $0,035\text{ mg/m}^3$; $\text{NO}_x$ $0,05\text{ mg/m}^3$; $\text{CO}$ $5,1\text{ mg/m}^3$; $\text{H}_2\text{S}$ không phát hiện; $\text{NH}_3$ $0,006\text{ mg/m}^3$).
  3. Hiện trạng thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn: Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện ước tính khoảng $345\text{ kg/ngày đêm}$ (dựa trên định mức $3\text{ kg/giường/ngày}$ với hệ số phục vụ), trong đó chất thải rắn y tế nguy hại chiếm khoảng 10% (tương đương $34\text{ kg/ngày đêm}$). Lượng chất thải thông thường khoảng $150\text{ kg/ngày đêm}$ được chuyển giao cho Hợp tác xã môi trường thu gom 2 ngày/lần.
  4. Nhận thức cộng đồng: 100% cán bộ nhân viên ($20/20$) nắm được quy chế quản lý chất thải và thực hiện phân loại, nhưng chỉ 65% ($12/20$) thường xuyên hướng dẫn mã màu thùng rác cho người bệnh. Trong khi đó, 100% người bệnh/người nhà ($30/30$) nhận thức được mức độ nguy hại của rác y tế, nhưng chỉ 16% ($5/30$) biết đến Quyết định 43/2007/QĐ-BYT và 40% ($12/30$) phân biệt được màu sắc các thùng đựng rác.
  5. Đề xuất giải pháp: Đưa ra các biện pháp cụ thể về quản lý môi trường (tăng cường tập huấn, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, mua sắm bảo hộ lao động đạt chuẩn) và biện pháp kỹ thuật (bố trí phân lập khoa phòng, thông gió tủ hút buồng X-quang, hoàn thiện trạm xử lý nước thải theo công nghệ chi phí thấp).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tổng hợp các kết luận chính về mặt đạt được và tồn tại trong công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện, đồng thời đưa ra kiến nghị đối với Sở Y tế, UBND huyện Hòa An và Ban Giám đốc bệnh viện về việc cấp kinh phí vận hành lò đốt, trang bị bảo hộ lao động và đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải.


Kết quả và đóng góp

Số liệu phát sinh và cơ cấu thành phần chất thải

Nghiên cứu đã định lượng cụ thể dòng thải phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An với các số liệu thực chứng:

  • Khối lượng chất thải rắn phát sinh trung bình: $345\text{ kg/ngày đêm}$ (trên quy mô 115 giường bệnh), trong đó chất thải y tế nguy hại chiếm $34\text{ kg/ngày đêm}$. Lượng chất thải thông thường phát sinh khoảng $150\text{ kg/ngày đêm}$.
  • Thành phần rác thải sinh hoạt và chất thải rắn y tế được tổng hợp qua bảng số liệu sau:
STT Thành phần rác sinh hoạt Tỷ lệ (%) Thành phần chất thải rắn y tế Tỷ lệ (%)
1 Rác hữu cơ 70,0 Chất hữu cơ các loại 53,2
2 Rác vô cơ 17,0 Chất thải rắn khác 21,0
3 Nhựa và chất dẻo 3,0 Plastic (nhựa y tế) 10,1
4 Các chất khác 10,0 Bông băng, gạc 8,8
5 Độ ẩm 65,0 – 69,0 Đồ thủy tinh 3,2
6 – – Giấy các loại 3,0
7 – – Kim loại 0,7

Thực trạng trang thiết bị, nhân lực và quy trình xử lý

  • Nhân lực thu gom: Đội vệ sinh gồm 5 nhân viên (4 nhân sự biên chế ngạch 12/12, 1 nhân sự hợp đồng theo Nghị định 68), trong đó có $2/5$ người đã qua các lớp đào tạo tập huấn có chứng chỉ về quản lý chất thải y tế.
  • Cơ sở vật chất thu gom: Bệnh viện trang bị 20 thùng rác, 5 xe đẩy rác, 10 xẻng/cuốc, 15 chổi quét. Tần suất thu gom nội viện đạt 2 lần/ngày (10h30 sáng và 16h30 chiều).
  • Quy trình phân loại: Áp dụng mã hóa màu sắc gồm túi/thùng màu xanh (rác thông thường), màu vàng (chất thải lây nhiễm), hộp cứng kháng thủng màu vàng (vật sắc nhọn), túi màu đen (chất thải hóa học, phóng xạ). Tuy nhiên, khảo sát chỉ ra tồn tại thực tế: nhân viên hộ lý vẫn để nhầm chất thải giải phẫu vào túi màu đen, và các khoa phòng còn sử dụng vỏ chai nhựa, hộp giấy để chứa vật sắc nhọn thay cho hộp chuyên dụng chuẩn hóa.
  • Phương tiện và đường vận chuyển: Sử dụng 2 xe đẩy rác tay có thành chắn nhưng không có nắp đậy kín, không thực hiện vệ sinh khử khuẩn xe sau mỗi lần thu gom và phải sử dụng chung hành lang di chuyển của bệnh nhân do thiếu lối đi chuyên dụng.
  • Vận hành xử lý cuối cùng: Chất thải thông thường do HTX môi trường thu gom 2 ngày/lần chuyển về bãi rác huyện; chất thải nguy hại được thiêu đốt tại lò đốt LĐ-45 với tần suất 2 lần/tuần, khối lượng đốt từ 30–40 kg/lần.

Đánh giá nhận thức của nhân viên y tế và cộng đồng

Nhóm đối tượng khảo sát Chỉ số đánh giá nhận thức Số lượng đạt Tỷ lệ (%)
Cán bộ, nhân viên y tế
($n = 20$)
Hiểu biết về Quy chế 43/2007/QĐ-BYT $20/20$ 100,0
Thực hành phân loại chất thải đúng quy định $20/20$ 100,0
Nhận thức ảnh hưởng của chất thải đến sức khỏe $20/20$ 100,0
Hướng dẫn mã màu thùng rác cho bệnh nhân $12/20$ 65,0
Bệnh nhân và người nhà
($n = 30$)
Nhận thức chất thải y tế có ảnh hưởng xấu $30/30$ 100,0
Nhận thấy bệnh viện có thu gom thường xuyên $30/30$ 100,0
Nhận thấy bệnh viện bố trí đủ thùng rác $25/30$ 83,3
Phân biệt được ý nghĩa màu sắc dụng cụ chứa rác $12/30$ 40,0
Biết đến Quy chế quản lý chất thải y tế (QĐ 43) $5/30$ 16,7

Giải pháp và đóng góp của đề tài

Tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện cho cơ sở:

  1. Giải pháp tổ chức và quản lý: Thiết lập cơ chế giám sát phân loại tại nguồn; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu bệnh viện; định kỳ tập huấn an toàn vệ sinh lao động cho 100% nhân viên thu gom; bắt buộc trang bị và sử dụng phương tiện bảo hộ cá nhân (khẩu trang, găng tay, ủng cao su, kính bảo hộ); tăng cường tuyên truyền trực quan (áp phích, bảng hướng dẫn mã màu) cho bệnh nhân tại các khoa điều trị.
  2. Giải pháp kỹ thuật: Quy hoạch đường vận chuyển chất thải riêng biệt tránh xung đột với luồng di chuyển của bệnh nhân; lắp đặt nắp đậy kín cho xe gom rác và thực hiện khử khuẩn xe định kỳ; cải tạo hệ thống hút khí độc và quạt thông gió cách sàn 20 cm tại phòng chụp X-quang; quy định người nhà tắt máy dắt xe tại cổng viện để giảm khí thải; nhanh chóng lựa chọn công nghệ và hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải y tế phù hợp với ngân sách bệnh viện tuyến huyện.

Đóng góp của khóa luận nằm ở việc cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chi tiết về định mức phát sinh dòng thải, hiện trạng cơ sở vật chất và phân tích các điểm nghẽn kỹ thuật trong khâu phân loại - vận chuyển tại một bệnh viện đa khoa tuyến huyện miền núi phía Bắc.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện nghiên cứu:

  • Về phạm vi lấy mẫu phân tích: Do hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện chưa hoàn thiện và nước thải vẫn lưu chứa trong bể tự hoại, trạm quan trắc chưa thể lấy mẫu nước thải đầu ra để đánh giá đầy đủ hiệu quả xử lý vi sinh và hóa lý theo QCVN 28:2010/BTNMT, mà chỉ tiến hành phân tích trên mẫu nước cấp sinh hoạt của bệnh viện.
  • Về thời gian theo dõi: Quá trình khảo sát thực nghiệm diễn ra trong thời gian ngắn (tháng 03 đến tháng 04/2014), chưa phản ánh được biến động lượng phát sinh chất thải y tế theo mùa dịch bệnh trong cả năm.
  • Hướng mở rộng tiếp theo: Cần thực hiện các nghiên cứu đánh giá chuyên sâu hiệu quả xử lý nước thải sau khi bệnh viện hoàn thiện trạm xử lý; quan trắc định kỳ các chỉ tiêu dioxin/furan từ khí thải lò đốt rác LĐ-45; và nghiên cứu mô hình quản lý thu gom chất thải y tế theo cụm liên huyện giữa Hòa An với các huyện lân cận (Hà Quảng, Thông Nông).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo thực tế hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Y tế Công cộng khi thực hiện các đồ án, khóa luận tốt nghiệp về đề tài đánh giá hiện trạng quản lý chất thải bệnh viện.
  • Cán bộ phụ trách công tác kiểm soát nhiễm khuẩn, quản lý môi trường tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện, trung tâm y tế khu vực có điều kiện cơ sở hạ tầng tương đồng.
  • Các phần đáng tham khảo nhất trong tài liệu gồm: Phương pháp thiết kế phiếu điều tra xã hội học về nhận thức quản lý rác thải y tế; bảng tổng hợp định mức thành phần chất thải rắn y tế; quy trình đánh giá sự phù hợp của lò đốt rác y tế 2 cấp (LĐ-45) theo QCVN 02:2012/BTNMT.

Câu hỏi thường gặp

1. Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An xử lý chất thải rắn y tế nguy hại bằng công nghệ gì?

Bệnh viện sử dụng lò đốt chất thải y tế LĐ-45, được lắp đặt và vận hành từ năm 2009. Đây là loại lò đốt nhiệt độ cao kiểm soát luồng khí với kỹ thuật đốt 2 cấp (rác được nạp vào buồng sơ cấp và thiêu đốt hoàn toàn tại buồng thứ cấp). Tần suất vận hành trung bình 2 lần/tuần, mỗi mẻ đốt xử lý từ 30 đến 40 kg chất thải rắn y tế nguy hại.

2. Định mức phát sinh chất thải rắn và nước thải hàng ngày tại bệnh viện là bao nhiêu?

Với quy mô 115 giường bệnh thực tế, tổng lượng chất thải rắn phát sinh trung bình khoảng $345\text{ kg/ngày đêm}$, trong đó chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 10% (khoảng $34\text{ kg/ngày đêm}$) và chất thải thông thường phát sinh khoảng $150\text{ kg/ngày đêm}$. Lượng nước cấp sử dụng và lượng nước thải phát sinh ước tính đạt trên $30\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$.

3. Những hạn chế lớn nhất trong khâu phân loại và vận chuyển chất thải nội bộ tại bệnh viện là gì?

Khâu phân loại còn hiện tượng lẫn lộn (chất thải giải phẫu bị hộ lý để nhầm vào túi màu đen; các khoa dùng chai nhựa, hộp giấy thay hộp kháng thủng chuyên dụng). Khâu vận chuyển sử dụng xe đẩy tay không có nắp đậy kín, không được vệ sinh khử trùng sau khi sử dụng và phải di chuyển chung trên hành lang đi lại của người bệnh do thiếu đường vận chuyển chất thải riêng.

4. Tình trạng xử lý nước thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An tại thời điểm khảo sát như thế nào?

Tại thời điểm nghiên cứu (năm 2014), hệ thống xử lý nước thải y tế của bệnh viện chưa được xây dựng hoàn chỉnh. Toàn bộ nước thải phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh và sinh hoạt của cán bộ, bệnh nhân được thu gom bằng đường ống riêng và lưu trữ tạm thời tại các bể tự hoại (bể phốt) của bệnh viện.

5. Kết quả khảo sát nhận thức của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân cho thấy điểm yếu nào?

Mặc dù 100% người bệnh và người nhà nhận thức được tính độc hại của chất thải y tế, nhưng có đến 84% ($25/30$) người không biết đến Quy chế quản lý chất thải y tế (Quyết định 43/2007/QĐ-BYT) và 60% ($18/30$) người không phân biệt được ý nghĩa màu sắc của các dụng cụ chứa rác trong bệnh viện.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Triệu Hải Đăng đã phản ánh trung thực, có hệ thống bức tranh hiện trạng phát sinh và công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa An năm 2014. Nghiên cứu đã làm rõ các điểm mạnh về ý thức chuyên môn của cán bộ y tế và hiệu quả vận hành của lò đốt rác LĐ-45, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn trọng yếu về thiếu hụt thiết bị chuyên dụng, quy trình thu gom nội bộ và sự chậm trễ trong hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải. Các số liệu thực địa và nhóm giải pháp quản lý – kỹ thuật được đề xuất trong công trình là tài liệu có giá trị khoa học và thực tiễn cao cho công tác kiểm soát môi trường y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh tuyến huyện miền núi.