MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cho đến nay, nó không chỉ phát triển ở các thành phố, khu đô thị lớn của nước ta mà đang mở rộng ra các huyện lân cận. Những năm gần đây, Huyện Chương Mỹ đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Huyện khá cao (12%/năm), Trong đó có sự góp phần chủ yếu là Thị Trấn Xuân Mai, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể.
Như vậy, khi nền kinh tế phát triển, tiêu dùng tăng, kéo theo đó sẽ là những vấn đề xung quanh nó như an ninh, chính trị, môi trường… Một vấn đề đang nổi cộm lên ở huyện Chương Mỹ hiện nay chính là vấn đề rác thải sinh hoạt. Rác thải không những chỉ làm ảnh hưởng đến môi trường, đến mĩ quan của huyện, mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân nơi đây. Rác thải sinh hoạt phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người, được thải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường dẫn đến môi trường bị ô nhiễm. Chất thải rắn (CTR) đô thị là vấn đề đã và đang được cộng đồng thế giới quan tâm, là một trong những vấn đề chiến lược bảo vệ môi trường để phát triển bền vững.
Trên địa bàn thị trấn Xuân Mai mỗi ngày lượng rác thải trung bình khoảng 20-30 tấn các loại chất thải thải ra môi trường, bao gồm tất cả các loại chất thải từ sinh hoạt, thương mại, dịch vụ, y tế… Với sự phát triển kinh tế xã hội ngày càng nhanh cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đăc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của dân số vì vậy lượng chất thải đổ ra môi trường ngày một lớn. Với một lượng chất thải rắn khá lớn như trên và có xu hướng ngày càng tăng cùng với tốc độ phát triển nếu không có một sự phối hợp, thu gom không hợp lý thì chất thải rắn sẽ là mối hiểm họa đối với môi trường như việc gây cản trở giao thông, gây ô nhiễm môi trường do lượng CTR tồn đọng gây mùi hôi, nước rỉ rác ở các đô thị đang phát triển. Cho nên vấn đề quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị tại thị trấn luôn được các cấp chính quyền và nhân dân quan tâm. n 2 Chính vì thế đề tài “Đánh giá hiện trạng công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn và bảo vệ môi trường trên địa bàn thị trấn Xuân Mai – Chương Mỹ - Hà Nội” được thực hiện với mong muốn giúp nhân dân thị trấn hiểu biết sâu rộng hơn về công tác quản lý chất thải rắn và bảo vệ môi trường của chính địa phương mình.
Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn, bảo vệ môi trường góp phần vào sự phát triển bền vững thị trấn Xuân Mai. MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU 1. Mục tiêu - Mô tả và đánh giá được hiện trạng quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn TT Xuân Mai, đề xuất một số giải pháp đối với các vấn đề còn tồn tại. - Giảm thiểu lượng chất thải rắn phát sinh, thực hiện công tác xã hội hóa trong bảo vệ môi trường.
- Nâng cao nhận thức cộng đồng về tác hại của chất thải rắn để bảo vệ môi trường sống trong lành. Yêu cầu Đánh giá được tình hình quản lý CTR sinh hoạt tại TT Xuân Mai. - Nguồn phát sinh CTR sinh hoạt trên địa bàn TT Xuân Mai. - Thành phần CTR sinh hoạt trên địa bàn TT Xuân Mai.
- Lượng phát sinh CTR sinh hoạt trên địa bàn TT Xuân Mai. - Tình hình quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn TT Xuân Mai. - Cơ cấu tổ chức của công ty môi trường đô thị Xuân Mai. - Phương tiện thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt trên địa bàn TT Xuân Mai.
- Tình hình phân loại, vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt trên địa bàn TT Xuân Mai. - Đề xuất phương hướng, giải pháp kiến nghị trong công tác quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn TT Xuân Mai. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Ý nghĩa trong học tập - Áp dụng những kiến thức đã được học vào thực tế, làm quen với công việc và môi trường mới. - Nâng cao kiến thức và tích lũy kinh nghiệm từ thực tế cho công việc sau khi ra trường.2 Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được công tác quản lý, lượng rác thải phát sinh, hiện trạng thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bàn Thị Trấn.
- Đánh giá công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn thị trấn và đề xuất một số giải pháp xử lý chất thải rắn tại Thị Trấn. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Cơ sở pháp lý Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005 số 52/2005/QH11, do quốc hội ban hành ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2006. Chương VI : Bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cư Chương VIII : Quản lý chất thải Một số văn bản pháp luật về quản lý chất thải rắn: Căn cứ vào mục 4 Nghị định số 80/2006/ NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết hướng dẫn thực hiện luật bảo vệ môi trường quy định về quản lý chất thải Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 - Quản lý chất thải rắn quy định về hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến chất thải rắn. Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ quy định về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn.
Nghị định số 117/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ngày 27/2/2009 của chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng kinh doanh bất động sản, khai thác, kinh doanh vật liệu xây dựng,quản lý công trình hạ tần kỹ thuật, quản lý phát triển nhà và công sở; Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ xây dựng về việc hướng dẫn thi hành một số số điều Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải rắn. Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12/12/2008 của Bộ tài chính hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý chất thải rắn. n 5 Quyết định số 798/QĐ-Ttg ngày 25/05/2011 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011 – 2020 do Thủ tướng chính phủ ban hành. Một số quy dịnh của thành phố Hà Nội về quản lý chất thải rắn và bảo vệ môi trường Quyết định số 148/QĐ-TTg Phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch xử lý chất thải rắn ở Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định 11/2010/QĐ-UBND ban hành Quy định quản lý chất thải rắn thông thường trên địa bàn thành phố Hà Nội do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành; 2.
Cơ sở thực tiễn • Hiện trạng rác thải rắn ở Việt Nam Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004, năm 2004, trên cả nước đã phát sinh 15 triệu tấn chất thải rắn (CTR) từ nhiều nguồn khác nhau trong đó khoảng 250.000 tấn chất thải nguy hại.8 triệu tấn/năm) là từ nguồn thải sinh hoạt, gồm hộ gia đình, nhà hàng, chợ và các cơ sở kinh doanh. CTR công nghiệp phát sinh vào khoảng 2,8 triệu tấn và CTR từ các làng nghề là 770. Do quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt đang tăng nhanh trung bình đạt từ 0,7-1,0 kg/người/ngày và có xu hướng tăng đều 10-16% mỗi năm. Tính đến tháng 6/2007 có tổng cộng 729 đô thị các loại, trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội và TP.
Hồ Chí Minh), 4 đô thị loại I (thành phố), 13 đô thị loại II (thành phố), 43 đô thị loại III (thành phố), 36 đô thị loại IV (thị xã), 631 đô thị loại V (thị trấn và thị tứ). Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên khoảng 6,5 triệu tấn/năm (năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất cả các đô thị Việt Nam là 6,4 triệu tấn/năm) [5]. Theo nghiên cứu của Bộ Xây dựng năm 2009, tổng khối lượng CTR phát sinh cả nước năm 2008 vào khoảng 28 triệu tấn, trong đó lớn nhất là CTR đô thị chiếm gần 50%, CTR nông thôn chiếm 30%, lượng còn lại là CTR công nghiệp, y tế và làng nghề. Dự báo tổng lượng CTR cả nước có thể sẽ phát sinh khoảng 43 n 6 triệu tấn vào năm 2015, 67 triệu tấn vào năm 2020 và 91 triệu tấn vào năm 2025, tăng từ 1,6 đến 3,3 lần so với hiện nay.
• Quản lý chất thải rắn Quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động: phòng ngừa và giảm thiểu phát sinh CTR; phân loại tại nguồn; thu gom, vận chuyển; tăng cường tái sử dụng, tái chế; xử lý và tiêu huỷ. Công tác quản lý chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay còn chưa tiếp cận được với phương thức quản lý tổng hợp trên quy mô lớn, chưa áp dụng đồng bộ các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế (3R) để giảm tỷ lệ chất thải phải chôn lấp. Hoạt động giảm thiểu phát sinh CTR, một trong những giải pháp quan trọng và hiệu quả nhất trong quản lý chất thải, còn chưa được chú trọng. Hoạt động phân loại tại nguồn chưa được áp dụng rộng rãi, chỉ mới được thí điểm trên qui mô nhỏ ở một số thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.
Tỷ lệ thu gom chất thải ở các vùng đô thị trung bình đạt khoảng 80-82%, thấp nhất là đô thị loại IV (65%), ở Hà Nội cao hơn (90%); ở các điểm dân cư nông thôn ~ 40-55%. Khoảng 60% khu vực ở nông thôn chưa có dịch vụ thu gom chất thải, chủ yếu dựa vào tư nhân hoặc cộng đồng địa phương. Tỷ lệ thu gom, vận chuyển CTR tuy đã tăng dần song vẫn còn ở mức thấp, chủ yếu phục vụ cho các khu vực đô thị, chưa vươn tới các khu vực nông thôn. Xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển CTR tuy đã được phát triển nhưng chưa rộng và chưa sâu, chủ yếu được hình thành ở các đô thị lớn.