MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nền kinh tế Việt Nam đang có những bƣớc chuyển mình mạnh mẽ. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trƣơng, bộ mặt xã hội đã có chuyển biến tích cực. Cho đến nay, nó không chỉ phát triển ở các thành phố, khu đô thị lớn của nƣớc ta mà đang mở rộng ra các quận, huyện, và các thị trấn, phạm vi nhỏ hẹp hơn là các làng, xã.
Song song, với quá trình phát triển đó, chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân các quận, huyện, nông thôn cũng đƣợc nâng cao. Mức sống của ngƣời dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội càng lớn, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lƣợng rác thải sinh hoạt theo hộ gia đình và nó đƣợc thải vào môi trƣờng ngày càng nhiều. Thị trấn Pác Miầu huyện Bảo Lâm nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Cao Bằng, nằm cách Thành Phố Cao Bằng 180km, là nơi có đƣờng quốc lộ 34 chạy qua thuận tiện cho việc giao thƣơng với tỉnh lân cận. Vì vậy, các hoạt động kinh tế, dịch vụ của thị trấn tƣơng đối phát triển, đồng thời dân số thị trấn tăng nên nhƣ cầu tiêu dùng của ngƣời dân cũng tăng theo.
Các chợ, quán ăn, dịch vụ phục vụ ngƣời dân cũng ngày càng phong phú và đa dạng, dẫn đến lƣợng rác thải cũng tăng nhiều. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây là chƣa có một giải pháp cụ thể nào về việc xử lý các nguồn rác thải phát sinh này. Mà rác thải chỉ đƣợc thu gom tập trung ở một số bãi rác lộ thiên, không tiến hành xử lý, làm mất vệ sinh công cộng, mất mỹ quan môi trƣờng, gây ô nhiễm môi trƣờng đất, nƣớc, không khí. Đặc biệt, những bãi rác này còn là nguy cơ gây bệnh dịch, nguy hại đến sức khỏe con ngƣời.
Xuất phát từ thực trạng trên, nhằm tìm ra biện pháp quản lý, xử lý phù hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng do rác thải sinh hoạt. Vì vậy, n 2 tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt thị trấn Pác Miầu - Huyện Bảo Lâm - Tỉnh Cao Bằng”. Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng, phân loại, thu gom và xử lý rác thải rắn sinh hoạt và đề xuất đƣợc các giải pháp quản lý chất thải có hiệu quả. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Kết quả của đề tài là tài liệu để tham khảo và là cơ sở cho các nghiên cứu khoa học liên quan đến mảng kiến thức này. Giúp cho sinh viên củng cố hệ thống hóa kiến thức đã học và áp dụng vào thực tế. Đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên nâng cao kiến thức, tích lũy kinh nghiệm thực tế. Vận dụng và phát huy đƣợc các kiến thức đã học tập vào thực tế và các kiến thức thực tế giúp nâng cao kiến thức và sự trƣởng thành cho bản thân.
Ý nghĩa thực tiễn Đánh giá đúng hiện trạng môi trƣờng tại thị trấn Pác Miầu - huyện Bảo Lâm - Cao Bằng Đề suất một số giải pháp có tính khả thi nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng để cải thiện và góp phần bảo vệ môi trƣờng sống nhằm bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Từ đó giúp nâng cao ý thức của nhân dân trong việc bảo vệ môi trƣờng. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Tổng quan về chất thải Theo điều 3 nghị định 59/2007/ NĐ-CP ngày 9/04/2007 về quản lý chất thải rắn (Luật bảo vệ môi trƣờng, 2005) [6]. + Hoạt động quản lý chất thải rắn: Bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tƣ xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lƣu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trƣờng và sức khoẻ con ngƣời. + Chất thải rắn: Là chất thải ở thể rắn, đƣợc thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. + Chất thải rắn sinh họat: Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng.
+ Phế liệu: Là sản phẩm, Vật liệu bị loại ra trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng đƣợc thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác. + Thu gom chất thải rắn: Là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lƣu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chấp nhận. + Lƣu giữ chất thải rắn: Là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trƣớc khi chuyển đến cơ sở xử lý. + Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lƣu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc chôn lấp cuối cùng.
+ Xử lý chất thải rắn: Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn. n 4 + Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: Là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh. + Phân loại rác tại nguồn: Là việc phân loại rác ngay từ khi mới thải ra hay gọi là từ nguồn. Đó là một biện pháp nhằm thuận lợi cho công tác xử lý rác về sau.
+ Rác: là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn hình dạng tƣơng đối cố định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con ngƣời. Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, đƣợc hiểu là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con ngƣời (Trần Hiếu Nhuệ, 2001) [12]. + Chất thải là sản phẩm đƣợc sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con ngƣời, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ, thƣơng mại, sinh hoạt gia đình, trƣờng học, các khu dân cƣ, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra, còn phát sinh trong giao thông vận tải nhƣ khí thải của các phƣơng tiện giao thông, chất thải là kim loại hoá chất và từ các vật liệu khác (Nguyễn Xuân Nguyên, 2004) [14].
-Tái chế chất thải: thực chất là ngƣời ta lấy lại những phần vật chất của sản phẩm hàng hóa cũ và sử dụng các nguyên liệu này để tạo ra sản phẩm mới. - Tái sử dụng chất thải: thực chất có những sản phẩm hoặc nguyên liệu có quãng đời sử dụng kéo dài, ngƣời ta có thể sử dụng đƣợc nhiều lần mà không bị thay đổi hình dạng vật lý, tính chất hóa học (Nguyễn Thế Chinh, 2003) [1]. Có rất nhiều cách phân loại chất thải khác nhau. Việc phân loại chất thải hiện nay chƣa có những quy định chung thống nhất, tuy nhiên bằng những nhìn nhận thực tiễn của hoạt động kinh tế và ý nghĩa của nghiên cứu quản lý đối với chất thải, có thể chia ra các cách phân loại sau đây: - Phân loại theo nguồn gốc phát sinh: + Chất thải từ các hộ gia đình hay còn gọi là chất thải hay rác thải sinh hoạt đƣợc phát sinh từ các hộ gia đình.
n 5 + Chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thƣơng mại: Là những chất thải có nguồn gốc phát sinh từ các ngành kinh tế nhƣ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. - Phân loại chất thải theo thuộc tính vật lý: Chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí - Phân loại chất thải theo tính chất hóa học: theo cách này ngƣời ta chia chất thải dạng hữu cơ, vô cơ hoặc theo đặc tính của vật chất nhƣ chất thải dạng kim loại, chất dẻo, thủy tinh, giấy, bìa… - Phân loại theo mức độ nguy hại đối với con ngƣời và sinh vật : chất thải độc hại, chất thải đặc biệt. Mỗi cách phân loại có một mục đích nhất định nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, sử dụng hay kiểm soát và quản lý chất thải có hiệu quả (Nguyễn Thế Chinh, 2003) [1]. Nguồn phát sinh chất thải rắn Các nguồn phát sinh CTR chủ yếu từ các hoạt động: - Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ và thƣơng mại - Khu dân cƣ - Cơ quan, trƣờng học - Bệnh viện Nhà dân, Cơ quan, Nơi vui chơi, khu dân cƣ trƣờng giải trí học Bệnh viện, Chợ, bến xe, Chất thải rắn cơ sở y tế nhà ga Khu công Giao thông, Nông nghiệp, nghiệp, nhà xây dựng hoạt động xử lý máy, xí nghiệp rác thải Hình 2.1: Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn.
Ảnh hưởng của CTR đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng Mức sống của con ngƣời càng cao thì lƣợng rác thải phát sinh ngày càng nhiều. Sự thải ra các chất rắn trong quá trình sinh hoạt và sản xuất của con ngƣời đã sinh ra hàng loạt các vấn đề ảnh hƣởng đến sức khỏe cộng đồng, ô nhiễm đất, nƣớc, phá hủy cảnh quan, mất cân bằng sinh thái. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khoẻ cộng đồng Một trong những dạng chất thải nguy hại xem là ảnh hƣởng đến sức khỏe của con ngƣời và môi trƣờng là các chất hữu cơ bền. Những hợp chất này vô cùng bền vữmg, tồn tại lâu trong môi trƣờng, có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản phẩm, thực phẩm, trong các nguồn nƣớc mô mỡ của động vật gây ra hàng loạt các bện nguy hiểm đối với con ngƣời, phổ biến nhất là ung thƣ.
Đặc biệt, các chất hữu cơ trên đƣợc tận dụng nhiều trong trong đời sống hàng ngày của con ngƣời ở các dạng dầu thải trong các thiết bị điện trong gia đình, các thiết bị ngành điện nhƣ máy biến thế, tụ điện, đèn huỳnh quang, dầu chịu nhiệt, dầu chế biến, chất làm mát trong truyền nhiệt. Theo đánh giá của các chuyên gia, các loại chất thải nguy hại ảnh hƣởng đến sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng nhất là đối với khu dân cƣ khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm môi trƣờng do chất thải rắn cũng đã đến mức báo động (Hội bảo vệ thiên nhiên và Môi trƣờng Việt Nam, 2004) [7].