CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ 1. Những vấn đề chung về quản lý chất thải y tế 1.Khái niệm, phân loại chất thải y tế Khái niệm chất thải y tế Chất thải y tế (CTYT) là một loại chất thải. Vì vậy để làm rõ khái niệm CTYT trước hết chúng ta phải tìm hiểu khái niệm chất thải. Với việc phát triển đất nước theo định hướng của nền kinh tế thị trường, tốc độ công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Nền kinh tế phát triển, đời sống con người được cải thiện, nhưng đi cùng với đó là nhiều hệ lụy phía sau. Vấn đề chất thải đang trở thành một nỗi lo lớn không chỉ với riêng nước ta mà cũng là vấn nạn lớn với toàn cầu. Dưới góc độ ngữ nghĩa chất thải được hiểu là những chất không còn sử dụng được nữa, bị con người thải ra trong các hoạt động khác nhau. Chất thải tồn tại trong thực tế rất đa dạng và phong phú, việc phân loại chất thải có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phương pháp, biện pháp quản lý cũng như trách nhiệm của các chủ thể quản lý chất thải.
Căn cứ vào mức độ nguy hại chất thải được phân thành 02 loại: chất thải nguy hại và chất thải thông thường Căn cứ vào thành phần chất thải, chất thải được phân thành 02 loại: chất thải vô cơ và chất thải hữu cơ Căn cứ vào trạng thái tồn tại, chất thải được phân thành 03 loại: chất thải rắn, khí thải và nước thải Căn cứ vào nguồn phát sinh chất thải được phân thành: chất thải sinh hoạt – phát sinh từ các sinh hoạt hàng ngày của dân cư và các hoạt động phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của họ; chất thải công nghiệp –phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp; chất thải nông nghiệp – phát sinh từ hoạt động nông nghiệp như phân gia súc, gia cầm, xác thực vật… và CTYT – phát sinh từ các hoạt động khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe… của các cơ sở y tế. 6 Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WH0) : “Chất thải y tế bao gồm toàn bộ chất thải từ các cơ sở y tế, các trung tâm nghiên cứu và các phòng thí nghiệm. Ngoài ra nó bao gồm cả các nguồn rác thải nhỏ và rải rác từ các hoạt động y tế diễn ra tại nhà như lọc máu, tiêm insulin…vv” [37] Theo như định nghĩa trên ta thấy theo quan điểm của WHO thì chất thải y tế không chỉ phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh mà còn từ các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm có liên quan đến hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe. Không những thế các chất thải phát sinh từ hoạt động y tế diễn ra tại nhà cũng được coi là CTYT.
Như vậy theo WHO để xác định chất thải đó có phải là CTYT hay không chúng ta dựa vào tiêu chí nguồn phát sinh chất thải. Nếu chất thải đó từ những hoạt động y tế nhằm duy trì và khôi phục sức khỏe thì được gọi là CTYT. Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (ICRC) lại nêu định nghĩa đơn giản về CTYT: “ Chất thải y tế bao gồm toàn bộ chất thải thải ra trong các hoạt động y tế và hoạt động chẩn đoán [38] Cũng như định nghĩa của WHO, định nghĩa của ICRC cũng chỉ ra tiêu chí để xác định chất thải y tế. CTYT được phát sinh trong các hoạt động y tế và chẩn đoán bệnh.
Có thể nói nếu như WHO nêu ra cụ thể về các nguồn phát sinh chất thải y tế thì định nghĩa của ICRC chỉ nêu một cách khái quát. Theo như định nghĩa này tất cả các chất thải thải ra từ các hoạt động y tế và chẩn đoán bệnh không phân biệt địa điểm phát sinh đều được coi là chất thải y tế. Định nghĩa này cũng phù hợp với tiêu chí hoạt động của ICRC - hoạt động trên toàn thế giới để cung cấp trợ giúp nhân đạo cho những người bị ảnh hưởng bởi xung đột và bạo lực vũ trang và thúc đẩy pháp luật bảo vệ nạn nhân của chiến tranh. Cả WHO và ICRC đều chung nhận định trong từ 75 đến 90% CTYT thu gom được đều không chứa nguy cơ gây hại nào, được gọi là CTYT thông thường, tương đương như chất thải sinh hoạt.Từ 10% đến 25% chất thải còn lại chứa nguy cơ cao gây hại cho sức khỏe con người và môi trường gọi chung là CTYT nguy hại.
Với loại chất thải nguy hại này cần có quy chế quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo giảm thiểu mọi nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường và con người. 7 Theo định nghĩa của Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (USEPA) thì “chất thải y tế là tổng hợp các chất thải phát sinh từ các cơ sở y tế như bệnh viện, phòng khám bệnh, phòng khám nha khoa, ngân hàng máu, và phòng khám thú y, trạm y tế cũng như các trung tâm nghiên cứu và thí nghiệm. Nói chung, những chất thải có khả năng chứa máu, dịch cơ thể hoặc các vật liệu có khả năng truyền nhiễm được quy định là chất thải y tế”[48] Như vậy về cơ bản theo quan điểm của Hoa Kỳ, CTYT cũng tương đồng với định nghĩa của WHO và ICRC, bên cạnh đó bổ sung chi tiết hơn về các nguồn phát sinh chất thải y tế. Ở Việt Nam, dưới góc độ pháp lý, định nghĩa về chất thải y tế đã chính thức được quy định lần đầu tiên tại Quy chế công tác xử lý chất thải, ban hành bởi Bộ Y tế theo quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT theo đó: “Chất thải bệnh viện bao gồm chất rắn, lỏng, khí; là những chất được thải ra trong quá trình điều trị, chẩn đoán, chăm sóc và sinh hoạt.
Chất thải bệnh viện có đặc tính lý học, hóa học và sinh học vừa là nguồn gây ô nhiễm môi trường vừa là nguồn gây bệnh; vì vậy xử lý và kiểm soát nghiêm ngặt chất thải là nhiệm vụ quan trọng của bệnh viện”. Có thể nói cách tiếp cận này gần như đồng nhất với quan điểm của WHO tuy nhiên lại chỉ ra rõ CTYT có thể tồn tại ở các dạng rắn, lỏng, khí. Các dạng tồn tại của CTYT đều không được quy định rõ trong định nghĩa của WHO, ICRC hay USEPA. Cách hiểu này lại một lần nữa được khẳng định lại trong Quy chế quản lý chất thải y tế (Ban hành kèm theo Quyết định số 2575/1999/QĐ-BYT ngày 27 tháng 8 năm 1999 Của Bộ trưởng Bộ Y tế).
Tại khoản 2, điều 1 Quy chế này có quy định “Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo. Chất thải y tế có thể ở dạng Rắn, Lỏng, Khí”. Cùng với những đòi hỏi ngày càng cao của quản lý CTYT bằng pháp luật, đến năm 2007, định nghĩa này một lần nữa được chỉnh sửa và quy định tại Quy chế Quản lý chất thải y tế - Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế (sau đây gọi tắt là quy chế 43). Tại khoản 1, điều 3 Quy chế này quy định “Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải 8 ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.” Điều khác biệt so với định nghĩa năm 1999 có thể dễ dàng nhận ra khi pháp luật quy định CTYT là “vật chất” chứ không khẳng định là “chất thải” như trước đây.
Từ định nghĩa này CTYT tồn tại dưới dạng vật chất ở dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí hoặc các dạng khác. Những yếu tố phi vật chất không thể được coi là chất thải. Và định nghĩa mới nhất về chất thải y tế được quy định tại khoản 1 điều 3 thông tư liên tịch 58/2015/ TTLT-BYT-BTNMT( sau đây gọi tắt là thông tư 58 ) thông tư liên tịch giữa Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên – Môi trường theo đó “Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế. Tại thông tư cũng quy định rõ thế nào được gọi là cơ sở y tế tại khoản 7, điều 1: “Cơ sở y tế bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ phòng khám bác sĩ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); cơ sở y tế dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học.” Với quy định về cơ sở y tế như trên thì nguồn phát sinh CTYT được phân định có phần thu hẹp hơn so với quy định trước đây cũng như so với quy định của quốc tế.
Theo quy định của Việt Nam, CTYT được phân chia thành 03 loại: chất thải y tế thông thường, chất thải y tế nguy hại và nước thải y tế. Việc phân chia này là cơ sở để có những quy chế quản lý phù hợp với từng loại CTYT. Tóm lại, cho đến nay, trên thế giới đã xuất hiện khá nhiều định nghĩa về CTYT. Mặc dù có những khác biệt nhất định về ngôn từ và cách diễn đạt, song tổng hợp các định nghĩa nêu trên về CTYT cho thấy những dấu hiệu đặc trưng sau để nhận biết CTYT: i) CTYT mang toàn bộ đặc điểm chung của chất thải, tồn tại tồn tại dưới dạng vật chất ở dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí hoặc các dạng khác.
Những yếu tố phi vật 9 chất không thể được coi là chất thải. Vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ hoặc bị buộc phải thải bỏ; ii) Nguồn gốc phát sinh CTYT đó là từ hoạt động y tế. Đây là tiêu chí chính để phân biệt chất thải y tế với các chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt khác. Phân loại chất thải y tế Trong hoạt động hàng ngày chữa trị cho bệnh nhân, các bệnh viện, cơ sở y tế thải ra một lượng khá lớn chất thải.
Tùy theo quan điểm khác nhau mà người ta có thể chia CTYT thành những loại khác nhau.