CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI VÀ CHẤT THẢI Y TẾ 1.1 Khái quát về chất thải y tế 1.1 Các khái niệm cơ bản của chất thải y tế Trong cuộc sống, chất thải được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng. Theo khoản 12 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. CTYT là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các CSYT bao gồm CTYT nguy hại, CTYT thông thường và nước thải y tế4 như: KBCB, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, và đào tạo. Trong đó, CTYT nguy hại là CTYT chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng CTNH, bao gồm chất thải lây nhiễm và CTNH không lây nhiễm.
QLCTYT là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý CTYT và giám sát quá trình thực hiện5. Trong đó, giảm thiểu CTYT là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải CTYT ra môi trường bên ngoài. Thu gom CTYT là quá trình tập hợp CTYT từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý CTYT trong khuôn viên CSYT. Vận chuyển CTYT là quá trình chuyên chở CTYT từ nơi lưu giữ chất thải trong CSYT đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý CTYT cho cụm CSYT, cơ sở xử lý CTYT nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý CTNH tập trung có hạng mục xử lý CTYT.
CSYT bao gồm: Cơ sở KBCB (trừ phòng khám bác sĩ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); cơ sở y tế dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học6. 4 Khoản 1 điều 3 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015 5 Khoản 3 điều 3 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015 6 Khoản 7 điều 3 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015 8 Như vậy, có thể nói CTYT mang những đặc điểm sau: (i) là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các CSYT; (ii) nguồn gốc phát sinh của CTYT chủ yếu từ các hoạt động KBCB, chăm sóc sức khỏe diễn ra trong các cơ sở KBCB, CSYT dự phòng, cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học. Trong đó, CSKBCB là các bệnh viện; phòng khám đa khoa; phòng khám chuyên khoa, bác sỹ gia đình; phòng chuẩn đoán y học cổ truyền; nhà hộ sinh; cơ sở chuẩn đoán; cơ sở dịch vụ y tế; trạm y tế cấp xã và tương đương; các hình thức khám chữa bệnh khác. CTYT còn phát sinh từ hoạt động thí nghiệm, nghiên cứu khoa học liên quan đến y tế trong các bệnh viện lớn.
Ngoài ra, chất thải từ các hoạt động sinh hoạt hằng ngày của NVYT, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân… cũng được coi là nguồn phát sinh CTYT khác với các chất thải thông thường phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của các tổ chức, cơ quan, hộ gia đình còn được gọi là rác không có tính chất nguy hại lây nhiễm như CTYT.2 Phân loại chất thải y tế 1.1 Phân loại theo dạng tồn tại của chất thải Tùy theo dạng tồn tại, CTYT được chia thành 3 loại7: Thứ nhất, đó là CTRYT. CTRYT là chất thải ở thể rắn phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, xét nghiệm, KBCB, các nghiên cứu liên quan,. bao gồm chất thải thông thường và CTNH. CTRYT sau khi phát sinh tại các nguồn được phân loại, thu gom, sau đó được vận chuyển nội bộ đến nơi lưu giữ tại các CSYT.
Tiếp theo, tùy vào tính chất độc hại, chất thải sẽ được xử lý tại chỗ hoặc vận chuyển đến các cơ sở có khả năng xử lý an toàn và cuối cùng sẽ được tiêu hủy. Thứ hai, đó là nước thải y tế. Nước thải y tế là nước thải phát sinh từ các hoạt động chăm sóc và sinh hoạt tại các CSYT. Nước thải y tế bao gồm nước thải sinh hoạt và KBCB của bệnh viện được dẫn theo các đường cống riêng vào bể thu gom rồi bơm vào trạm xử lý nước thải.
Sau đó, tùy theo tính chất của từng loại, nước thải sẽ được xử lý loại bỏ rác, cát, chất lơ lửng,.các chất hữu cơ và một phần 7 Khoản 3 điều 4 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015 9 chất dinh dưỡng; khử trùng tiêu diệt các loại vi khuẩn gây bệnh, đảm bảo các tiêu chuẩn quy định trước khi xả thải ra môi trường bên ngoài. Thứ ba, đó là khí thải y tế. Chất thải khí y tế là khí phát sinh từ các phòng xét nghiệm, kho hóa chất, dược phẩm, các thiết bị sử dụng khí hóa chất độc hại tại các CSYT và lò đốt CTRYT. Chất thải khí phát sinh phải được xử lý, đảm bảo tiêu chuẩn quy định trước khi thải ra môi trường.Phân loại theo thành phần và tính chất nguy hại Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các CSYT được phân thành 5 nhóm sau8: Thứ nhất, đó là CTLN.
CTLN là loại chất thải chứa các mầm bệnh (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng hoặc nấm) có khả năng gây bệnh cho con người. CTLN được phân thành 4 loại bao gồm: - CTLN sắc nhọn: Là chất thải có thể chọc thủng hoặc gây ra các vết cắt, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: Bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ. CTLN sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng. - CTLN không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách li: Dây truyền máu, dịch cơ thể và chất bài tiết của người bệnh; bông băng, gạc, dây truyền máu, ống dẫn lưu, ống hút dịch.
Loại CTLN này đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng. - Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm. Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ phòng xét nghiệm: Găng tay, lam kính, ống nghiệm; Môi trường nuôi cấy và các dụng cụ lưu giữ các tác nhân lây nhiễm ở trong phòng xét nghiệm; Các đĩa nuôi cấy bằng nhựa và các dụng cụ sử dụng để cấy chuyển, phân lập; Bệnh phẩm thừa sau khi sinh thiết/xét nghiệm/nuôi cấy; Túi đựng máu, hồng cầu, huyết tương. Chất thải phát sinh từ buồng bệnh nhân truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm: Mọi chất thải phát sinh từ buồng bệnh 8 Khoản 1 điều 4 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015 10 cách li (bệnh nhân SARS, cúm A, H5N,.); Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng; - Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô bệnh phẩm của cơ thể (dù nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn); Các cơ quan, bộ phận cơ thể người; Rau thai, bào thai; Các chất thải từ phẫu thuật tử thi mà nguyên nhân tử vong do các bệnh truyền nhiễm; Các chất thải của động vật, xác súc vật bị nhiễm khuẩn hoặc được tiêm các tác nhân lây nhiễm.Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng.
Thứ hai, đó là chất thải hoá học nguy hại. Chất thải hóa học nguy hại bao gồm các chất thải dược phẩm, chất hóa học nguy hại, chất gây độc tế bào và chất chứa kim loại nặng. Trong đó, chất thải dược phẩm bao gồm: Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng; Dược phẩm bị đổ; Vỏ lọ, ống kết nối chứa các dược phẩm nguy hại; Dược phẩm bị nhiễm khuẩn; Các loại huyết thanh, văc xin sống giảm độc lực cần thải bỏ; Ngoài ra còn bao gồm các trang thiết bị, dụng cụ sử dụng trong việc xử lý dược phẩm như: găng tay.CTNH không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu đen. Hiện nay, các chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế như: - Formadehyde và các hóa chất khử khuẩn khác được sử dụng để làm sạch và khử trùng thiết bị, bảo quản mẫu vật, khử trùng chất thải lỏng lây nhiễm,.
- Các chất quang hóa học: Hyroquinone, kali hydroxide, bạc, glutarladehyde; - Các dung môi: Các hợp chất halogen: methylene chloride, chloroform, freons, trichloro ethylene và 1,1,1-tricholoromethane; Các thuốc mê bốc hơi: halothane, enílurane; Các hợp chất không có halogen: xylene, acetone, isopropanol, toluene, benzene;. - Oxit ethylene; - Các dung môi: phenol, dầu mỡ, các dung môi làm vệ sinh, cồn ethanol; methanol, axit. - Hóa chất vô cơ: chủ yếu là axit và kiềm: axit sulfuric, axit hydrochloric, axit nitric, axit cromic, natri hydroxit và ammoniac. Các chất oxy hóa: thuốc tím, 11 kali dicromat (K2&2O2) và natri sulfit (Na2SO3).
Chất thải chứa chất gây độc tế bào: Thuốc gây độc tế bào được sử dụng trong quá trình điều trị ung thư và ghép tạng. Chất thải thuộc loại gây độc tế bào, các lọ thuốc dư thừa sau sử dụng và các chất thải từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu. Các chất gây độc tế bào có thể tồn tại trong nước tiểu, phân và nôn từ các bệnh nhân được xét nghiệm hoặc điều trị ít nhất 48h cho đến 1 tuần sau khi tiêm thuốc. Các chất gây độc tế bào rất nguy hiểm có thể gây đột biến gen, quái thai và ung thư.
CTNH không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ có nắp đậy kín. Bên cạnh đó, chất thải chứa kim loại nặng là những hóa chất nguy hiểm, có độc tính cao, ví dụ như thủy ngân từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa, cadimi (Cd) từ pin, ắc quy, chì từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị hay một số loại thuốc có thể chứa thạch tín (As). Thứ ba, đó là chất thải phóng xạ.