Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Phân loại chất thải y tế * Chất thải lây nhiễm bao gồm: - Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, kim chọc dò, kim châm cứu, lưỡi dao mổ, đinh, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác. - Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể, các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. - Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính máu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 92/2010/NĐ-CP ngày 30/8/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm và bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm.
- Chất thải giải phẫu: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm. * Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm: - Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại. - Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất. - Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng.
- Chất hàn răng amalgam thải bỏ. * Chất thải y tế thông thường bao gồm: - Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế. - Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại. - Sản phẩm thải lỏng không nguy hại.
Nguồn phát sinh chất thải y tế từ các hoạt động trong bệnh viện Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là bệnh viện, các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu.; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu. hầu hết các chất thải rắn y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại chất thải rắn khác. Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược.1 Nguồn phát sinh các loại chất thải rắn đặc thù từ hoạt động y tế Loại chất thải rắn Nguồn tạo thành Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các loại bao gói. Chất thải chứa các vi Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người trùng gây bệnh sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân.
Chất thải bị nhiễm Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, các chất bẩn thải từ quá trình lau cọ sàn nhà. Chất thải đặc biệt Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất phóng xạ, hóa chất dược.từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược. (Bộ Tài nguyên và Môi trường 2015, Báo cáo diễn biến môi trường ) [3] Chất thải rắn y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và gia tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng sản phẩm dùng một lần trong y tế, dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế. Tổng lượng chất thải rắn y tế trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại.
Lượng chất thải rắn trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó chất thải rắn y tế nguy hại tính trung bình là 0,14-0,2 kh/giường/ngày [10][3]. Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo khảo sát năm 2009, tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53 kg/giường/ngày. Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Trung ương và bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 với 0,01 kg/giường/ngày. Lượng chất thải rắn y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các c 5 bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện.
Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện Tổng lượng chất thải phát sinh Tổng lượng chất thải y tế nguy hại (kg/giường/ngày) (kg/giường/ngày) Bệnh Bệnh Bệnh Bệnh Bệnh Bệnh Khoa viện Trung viện Trung viện viện viện viện trung bình trung bình tỉnh huyện tỉnh huyện ương ương Bệnh viện 0,97 0,88 0,73 0,16 0,14 0,11 Khoa hồi 1,08 1,27 1,00 0,3 0,31 0,18 sức cấp cứu Khoa nội 0,64 0,47 0,45 0,04 0,03 0,02 Khoa nhi 0,50 0,41 0,45 0,04 0,05 0,02 Khoa ngoại 1,01 0,87 0,73 0,86 0,26 0,21 0,17 0,14 Khoa sản 0,82 0,95 0,74 0,21 0,22 0,17 Khoa mắt 0,66 0,68 0,34 0,12 0,10 0,08 Khoa cận 0,11 0,10 0,08 0,03 0,03 0,03 lâm sàng Trung bình 0,72 0,7 0,56 0,14 0,13 0,09 (Bộ Tài nguyên và Môi trường 2015 - Báo cáo diễn biến môi trường)[3] Trong chất thải rắn y tế, thành phần đáng quan tâm nhất là dạng chất thải nguy hại, do nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh và hóa chất độc cho con người. Lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh không đồng đều tại các địa phương, chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn. Xét theo 7 vùng kinh tế trong cả nước, vùng Đông Nam Bộ phát sinh lượng chất thải nguy hại lớn nhất trong cả nước (32%), với tổng lượng thải là 10.502,8 tấn/năm, tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng (chiếm 21%). Lượng chất thải nguy hại y tế phát sinh khác nhau giữa các loại cơ sở y tế khác nhau.
Các nghiên cứu cho thấy các bệnh viện tuyến trung ương và tại các thành phố lớn có tỷ lệ phát sinh chất thải nguy hại cao nhất. Lượng chất thải y tế cần được xử lý trong 1 ngày là 5.122 kg, chiếm 16,2% tổng lượng chất thải y tế. Tính trung bình theo giường bệnh thì chất thải nguy hại là 0,25 kg/giường/ngày. Sự biến động khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các cơ sở y tế khác nhau (Đơn vị tính: kg/giường bệnh/ngày) Loại bệnh viện 2005 2010 Bệnh viện đa khoa Trung ương 0,35 0,42 Bệnh viện chuyên khoa Trung ương 0,23 - 0,29 0,28 - 0,35 Bệnh viện đa khoa tỉnh 0,29 0,35 Bệnh viện chuyên khoa tỉnh 0,17 - 0,29 0,21 - 0,35 Bệnh viện huyện, ngành 0,17 - 0,22 0,21 - 0,28 (Bộ Tài nguyên và Môi trường 2010, Báo cáo môi trường quốc gia 2010 ) [1] 1.
Tác động đến môi trường Chất thải y tế có thể tác động xấu tới tất cả các khía cạnh của môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí. Mặt khác, xử lý CTYT không đúng phương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên thiên nhiên. [8][1] *Tác động đến môi trường đất: Rác thải bệnh viện nói chung và rác thải y tế nói riêng khi thải vào môi trường mà không được thu gom xử lý thích hợp sẽ gây ra nhiều tác hại cho môi trường sống, đặc biệt là rác thải y tế độc hại. Khi thải vào môi trường, các chất thải này sẽ phân hủy hoặc không phân hủy làm gia tăng nồng độ các chất dinh dưỡng, tạo ra các hợp chất vô cơ, hữu cơ độc hại,…làm ô nhiễm nguồn đất, gây hại cho hệ sinh vật đất, tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại, ruồi muỗi phát triển, là nguyên nhân gây ra các dịch bệnh, nguy cơ gây lây lan, lan truyền các loại dịch bệnh.
Do đó, quản lý chất thải y tế không đúng quy trình và việc tiêu hủy chất thải y tế tại các bãi chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại,. gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lắp gặp nhiều khó khăn. *Tác động đối với môi trường nước: Tác động của CTYT đối với các nguồn nước có thể so sánh với nước thải sinh hoạt. Tuy nhiên, nước thải từ các cơ sở y tế còn có thể chứa Salmonella, c 7 Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng, các hóa chất độc hại, chất hữu cơ, kim loại nặng.
Do đó, nếu không được xử lý triệt để trước khi xả thải vào nguồn nước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồn tiếp nhận được sử dụng cho sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi, sẽ có nguy cơ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A,. cho những người sử dụng các nguồn nước này. Các tác động của chúng: - Chất rắn lơ lửng: nước thải bệnh viện có hàm lượng chất rắn lơ lửng cao, làm nước biến màu và mất oxy, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nước tiếp nhận, ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy vực của nguồn nước tiếp nhận. - Hàm lượng oxy hòa tan DO: hàm lượng DO là một trong những tiêu chí quan trọng của nước vì oxy không thể thiếu đối với tất cả các sinh vật sống trên cạn cũng như dưới nước.
Oxy duy trì quá trình trao đổi chất, sinh ra năng lượng cho sự sinh trưởng, sinh sản và tái sản xuất. Nước thải bệnh viện có chứa nhiều hóa chất, hợp chất mà quá trình oxy hóa chúng sẽ làm giảm nồng độ oxy hòa tan trong nguồn nước tiếp nhận, dẫn đến đe dọa sự sống của các loài cá cũng như sinh vật sống trong nước. - Nhu cầu oxy hóa học COD: Nước thải bệnh viện chứa nhiều loại vi khuẩn gây bệnh có nguồn gốc từ người bệnh và các chất độc hại khác hình thành trong quá trình điều trị, phần lớn bệnh viện đều nằm trong các đô thị hoặc khu dân cư đông đúc, nên nước thải bệnh viện không được xử lý tốt mà vẫn thải ra môi trường xung quanh sẽ gây nhiễm bẩn và làm lan truyền dịch bệnh. Ở nước ta hiện nay, nhiều bệnh viện không có trạm xử lý nước thải nên vấn đề ô nhiễm môi trường do nước thải cần được quan tâm và có biện pháp xử lý.