Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về chất thải rắn y tế (CTRYT) 1. Cơ sở khoa học 1. Tổng quan về Chất thải rắn và quản lý chất thải rắn + Khái niệm chất thải: Tại khoản 10 Điều 3 của Luật bảo vệ môi trường 2014 thì: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác".
Như vậy, rác thải là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ dùng, chất phế thải sản xuất, dịch vụ, y tế,. mà mọi người không dùng nữa và thải bỏ đi. + Nguồn gốc phát sinh và thành phần của chất thải Chất thải rắn phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau: Từ khu dân cư: Bao gồm các khu dân cư tập trung, những hộ dân cư tách rời. Nguồn rác thải chủ yếu là: thực phẩm dư thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, cao su,.
còn có một số chất thải nguy hại Từ các động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan, khách sạn,.Các nguồn thải có thành phần tương tự như đối với các khu dân cư (thực phẩm, giấy, catton,.) Các cơ quan, công sở: Trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính: lượng rác thải tương tự như đối với rác thải dân cư và các hoạt động thương mại nhưng khối lượng ít hơn. Từ xây dựng: Xây dựng mới nhà cửa, cầu cống, sửa chữa đường xá, dỡ bỏ các công trình cũ. Chất thải mang đặc trưng riêng trong xây dựng: sắt thép vụn, gạch vỡ, các sỏi, bê tông, các vôi vữa, xi măng, các đồ dùng cũ không dùng nữa Dịch vụ công cộng của các đô thị: Vệ sinh đường xá, phát quan, chỉnh tu các công viên, bãi biển và các hoạt động khác,. Rác thải bao gồm cỏ rác, rác thải từ việc trang trí đường phố.
c 5 Các quá trình xử lý nước thải: Từ quá trình xử lý nước thải, nước rác, các quá trình xử lý trong công nghiệp. Nguồn thải là bùn, làm phân compost,. Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Bao gồm chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công, quá trình đốt nhiên liệu, bao bì đóng gói sản phẩm,. Nguồn chất thải bao gồm một phần từ sinh hoạt của nhân viên làm việc.
Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải chủ yếu từ các cánh đồng sau mùa vụ, các trang trại, các vườn cây,. Rác thải chủ yếu thực phẩm dư thừa, phân gia súc, rác nông nghiệp, các chất thải ra từ trồng trọt, từ quá trình thu hoạch sản phẩm, chế biến các sản phẩm nông nghiệp. Chất thải rắn y tế + Khái niệm: Theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015 thì Chất thải y tế được định nghĩa như sau: Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế. +Phân loại: - Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế.
• Chất thải lây nhiễm • Chất thải hóa học nguy hại • Bình chứa áp suất • Chất thải thông thường - Theo thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT – BYT - BTNMT ký ngày 31/12/2015 về việc quản lý chất thải y tế. • Chất thải lây nhiễm sắc nhọn • Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn • Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao • Chất thải giải phẫu • Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn c 6 • Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng • Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế • Chất thải thông thường phục vụ mục đích tái chế + Quy trình quản lý chất thải y tế 1. Cơ sở pháp lý Các văn bản, luật, nghị định, thông tư ban hành từ trước đến nay: Luật bảo vệ MT số 55/2014/QH 13 thông qua ngày 23/6/2014. Nghị định số 18/2015/NĐ – CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về thi hành luật BVMT.
Thông tư 36/2015/TT-BTNMT ban hành ngày 30/6/2015 về quy định quản lý chất thải của Bộ TNMT. Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT/BKHCN-BYT ngày 9/6/2014 hướng dẫn thực hiện an toàn bức xạ trong y tế. Thông tư ban hành quy chuẩn VN 02:2012/BTNMT-LĐCTYT. Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT – BYT - BTNMT ký ngày 31/12/2015 về việc quản lý chất thải y tế.
Tổng quan nghiên cứu chất thải rắn y tế trên thế giới - Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada. Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải.); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; người phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế. ( Báo cáo môi trường của ngành y tế năm 2015 ) c 7 - Thực trạng phát sinh chất thải y tế Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng. Chất thải rắn y tế theo giường bệnh trên thế giới năm 2015 Tổng lượng CTYT CTYT nguy hại Tuyến bệnh viện (kg/GB) (kg/GB) Bệnh viện trung ương 4,4 - 9,6 0,5 - 1,7 Bệnh viện tỉnh 2,6 - 4,8 0,4 - 1,3 Bệnh viện huyện 0,7 - 1,9 0,3 - 0,6 ( Nguồn: Báo cáo của Bộ y tế về tình hình hoạt động của bệnh viện tại Hà Nội – 2015) + Phân loại chất thải y tế Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (2012), ở các nước đang phát triển có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); chất thải hoá học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao).
Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên cứu.; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể.); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chất thải phóng xạ. + Quản lý chất thải y tế tại 1 số quốc gia trên thế giới: Anh, Srilanka. Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 20 - 68% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách. Tại các cơ sở Y tế, 13,8% công nhân xử lý chất thải bị tổn c 8 thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT.
Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn. Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy. (Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế, 2015) Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở các nước đang phát triển, vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin đã áp dụng phương pháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa; Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện về mối nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp. Tổng quan nghiên cứu chất thải rắn ở Việt Nam a.
Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam - Tổng lượng chất thải y tế phát sinh. Hệ thống các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn toàn quốc được phân cấp quản lý theo tính chất chuyên khoa. Cụ thể, Bộ Y tế quản lý 13 bệnh viện đa khoa tuyến trung ương, 26bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương; địa phương quản lý 748 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh/thành phố, 241 bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh/thành phố, 598 bệnh viện đa khoa quận/huyện/thị xã và 11.822 trung tâm y tế các cấp; các đơn vị khác quản lý 92 Trung tâm/Nhà điều dưỡng/ bệnh viện tư nhân. Theo Tổng cục thống kê năm 2015 thì mức độ đáp ứng nhu cầu chữa trị tính chung trong cả nước tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây, năm 2010 là 18,8 giường bệnh/1 vạn dân, đến năm 2020 là 28 giường bệnh/1 vạn dân.
Việc tăng số lượng giường bệnh thực tế do tăng nhu cầu về khám chữa bệnh đồng nghĩa với việc tăng khối lượng chất thải y tế cần phải xử lý. c 9 Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu.; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hang máu. Hầu hết các CTR y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác. Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật.