ĐẶT VẤN ĐỀ Cùng với sự gia tăng dân số và phát triển về kinh tế, CTRYT phát sinh tại các cơ sở y tế có chiều hƣớng ngày càng gia tăng do tốc độ phát triển của ngành y, dƣợc học, cùng với sự gia tăng số giƣờng bệnh điều trị. Theo thống kê tại các cơ sở y tế trên cả nƣớc phát sinh khoảng 450 tấn CTR/ngày, trong đó có 47 tấn/ngày là CTRYT nguy hại [8]. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, mức tăng CTYT hiện nay là 7,6%/năm ƣớc tính năm 2015 lƣợng CTYT phát sinh là 600 tấn/ngày và dự kiến năm 2020 là 800 tấn/ngày [2]. Về hoạt động quản lý CTRYT, tính đến hết năm 2015, tỷ lệ CTRYT đƣợc thu gom đạt trên 75%, tỷ lệ CTRYT nguy hại đƣợc thu gom, xử lý đạt khoảng 65%.
Hầu hết các bệnh viện đều tiến hành phân loại, thu gom chất thải nhƣng phƣơng tiện thu gom còn thiếu, chƣa đồng bộ, hầu hết chƣa đạt tiêu chuẩn, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển đƣợc an toàn [2]. Chất thải rắn y tế là loại chất thải đặc biệt, các tác nhân gây bệnh, độc hại cho con ngƣời và môi trƣờng, nếu các hoạt động quản lý CTRYT nhƣ phân loại, thu gom, lƣu giữ, xử lý… không đúng quy định sẽ tiềm ẩn những nguy cơ cho sức khỏe con ngƣời, môi trƣờng và cơ sở y tế với chức năng chăm sóc sức khỏe cho ngƣời bệnh cũng sẽ là nơi phát tán các tác nhân gây bệnh ra môi trƣờng. Từ ngày 01/4/2016, Bộ Y Tế - Bộ Tài Nguyên Môi Trƣờng đã có thông tƣ liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định về quản lý CTYT thay thế Quyết định số 43/2008/QĐ-BYT, quy định cụ thể các nội dung cần thực hiện trong hoạt động quản lý CTYT, quy chế này là cơ sở chủ yếu để các cấp y tế ở cơ sở tại địa phƣơng thực hiện hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, lƣu giữ, xử lý và các nội dung khác trong hoạt động quản lý CTYT. Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ có 180 giƣờng bệnh với 191 cán bộ y tế, 11 khoa lâm sàng , 03 khoa cận lâm sàng, 07 phòng chức năng.
Mỗi ngày khám khoảng 300 - 500 bệnh nhân ngoại trú và điều trị khoảng 200 - 300 bệnh nhân nội trú, lƣợng CTRYT phát sinh/ngày khoảng 50kg. 2 Do điều kiện kỹ thuật, cơ sở vật chất của bệnh viện còn gặp nhiều khó khăn hiện chƣa đủ xe thu gom vận chuyển rác thải y tế từ khoa, phòng về kho tập kết, lƣu trữ và xử lý tại khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, kinh phí vận hành và bào trì cho lò đốt rác còn hạn chế. Bên cạnh đó nhận thức về thực hành xử lý chất thải trong cán bộ y tế, nhân viên làm công tác xử lý chất thải và bệnh nhân còn chƣa cao. Tác giả công tác tại khoa KSNK mong muốn bệnh viện thực hiện tốt quy chế quản lý CTYT theo thông tƣ liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT, nghiên cứu đƣợc triển khai với mong muốn trả lời cho các câu hỏi: Công tác quản lý, thu gom, phân loại, lưu trữ, vận chuyển và xử lý CTRYT tại các khoa phòng trong bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ như thế nào? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý, thu gom, phân loại, lưu trữ và vận chuyển CTRYT tại đây và giải pháp khắc phục hiệu quả nhất là gì? Nghiên cứu sẽ giúp đƣa ra một số giải pháp phù hợp với điều kiện bệnh viện nhằm nâng cao công tác quản lý CTRYT: phân loại, thu gom, lƣu giữ, vận chuyển và xử lý CTRYT từ các khoa phòng trong bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ về khoa KSNK để xử lý một cách hợp lý, an toàn góp phần giảm thiểu tác hại của CTRYT với môi trƣờng bệnh viện và cộng đồng.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ năm 2016. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến việc quản lý chất thải rắn y tế và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với điều kiện bệnh viện. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế 1. Các khái niệm Chất thải y tế: là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thƣờng và nƣớc thải y tế. Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vƣợt ngƣỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm. Quản lý chất thải y tế: là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lƣu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện.
Giảm thiểu chất thải y tế: là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất thải y tế. Thu gom chất thải y tế: là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lƣu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế. Vận chuyển chất thải y tế: là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lƣu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lƣu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế. Cơ sở y tế: bao gồm cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ phòng khám bác sĩ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển ngƣời bệnh trong nƣớc và ra nƣớc ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); cơ sở y tế dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học.
Phân loại chất thải y tế Thông tƣ liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của liên Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định về quản lý chất thải y tế, phân định chất thải y tế nhƣ sau: 5 1. Chất thải lây nhiễm, bao gồm: Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, kim chọc dò, kim châm cứu, lƣỡi dao mổ, đinh, cƣa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác. Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly; Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 92/2010/NĐ -CP ngày 30/8/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm. Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể ngƣời thải bỏ và xác động vật thí nghiệm.
Chất thải nguy hại không lây nhiễm, bao gồm: Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại. Dƣợc phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất. Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng; Chất hàn răng amalgam thải bỏ. Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tƣ số 36/2015/TT- BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng về quản lý chất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tƣ số 36/2015/TT-BTNMT).
Chất thải y tế thông thường, bao gồm: Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thƣờng ngày của con ngƣời và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế; Sản phẩm thải lỏng không nguy hại. Chất thải rắn thông thƣờng phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại quy định tại Điểm a, Khoản 4 Điều này nhƣng có yếu tố nguy hại dƣới ngƣỡng chất thải nguy hại. Danh mục và mã chất thải y tế nguy hại bao gồm: Danh mục và mã chất thải nguy hại quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tƣ số 36/2015/TT-BTNMT đƣợc quy định cụ thể cho chất thải y tế nguy hại tại Phụ lục số 01 (A) ban hành kèm theo Thông tƣ này. Danh mục chất thải y tế thông thƣờng đƣợc phép thu gom phục vụ mục đích tái chế quy định tại Phụ lục số 01 (B) ban hành kèm theo Thông tƣ này.
Một số ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe 1. Đối tượng có nguy cơ chịu ảnh hưởng Tất cả các cá nhân tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với chất thải y tế nguy hại ở bên trong hay bên ngoài khuôn viên bệnh viện tại tất cả các công đoạn từ phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý đều chịu tác động xấu tới sức khỏe, nếu chất thải y tế không đƣợc quản lý đúng quy định và các vấn đề an toàn không đƣợc quan tâm đúng mức, các đối tƣợng chịu ảnh hƣởng chính [12]. Bao gồm: - Cán bộ, nhân viên y tế: bác sĩ, y sĩ, y tá, kỹ thuật viên, hộ lý, sinh viên thực tập công nhân vận hành các công trình xử lý chất thải,…. - Nhân viên của các đơn vị hoạt động trong cơ sở y tế: nhân viên công ty vệ sinh công nghiệp; nhân viên giặt là, nhân viên làm việc ở khu vực nhà tang lễ, trung tâm khám nghiệm tử thi.
- Các đối tƣợng khác: Ngƣời tham gia vận chuyển, xử lý CTYT ngoài khuôn viên bệnh viện; ngƣời liên quan đến xử lý rác và ngƣời nhặt rác; bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú; ngƣời nhà bệnh nhân và khách thăm; học sinh, học viên học tập/thực tập tại các CSYT; cộng đồng và môi trƣờng xung quanh cơ sở y tế; cộng đồng sống ở vùng hạ lƣu các con sông tiếp nhận các nguồn chất thải của các cơ sở y tế chƣa đƣợc xử lý hoặc xử lý chƣa đạt yêu cầu.