Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về chất thải rắn y tế 1. Các khái niệm Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, nghiên cứu, của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế [12]. Chất thải y nguy hại là chất thải có các thành phần như máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, các cơ quan, bơm tiêm, vật sắc nhọn, dược phẩm hóa chất, chất phóng xạ.
cần lưu giữ, xử lý theo rác nguy hại, thải bỏ đặc biệt, có quy định riêng [12]. Chất thải y tế nằm trong Danh mục A của danh mục chất thải nguy hại và có mã số A4020-Y1 [3]. Chất thải y thông thường là chất thải phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế. Rác y tế là phần chất thải y tế ở dạng rắn, không tính chất lỏng và khí được thu gom và xử lý riêng.
Rác sinh hoạt là chất thải không xếp vào chất thải nguy hại, không có khả năng gây độc, không cần lưu giữ hay xử lý đặc biệt. Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất thải y tế. Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế [13]. 5 Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế [13].
Phân loại chất thải y tế 1. Chất thải lây nhiễm Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, kim chọc dò, kim châm cứu, lưỡi dao mổ, đinh, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác [12]. Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể, các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên.
Chất thải giải phẫu bao gồm mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm[12]. Chất thải nguy hại không lây nhiễm Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại, dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất, thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng, chất hàn răng amalgam thải bỏ, chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT) [4]. Chất thải y tế thông thường Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người 6 và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế, Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải y tế nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại [12]. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế 1.
Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe Ngày nay, Bệnh viện, các cơ sở y tế, y tế dự phòng được cho là môi trường có nguy cơ gây rủi ro cho sức khỏe con người. CTYT có thể gây tác động xấu đến sức khỏe con người như lây bệnh qua đường máu cho nhân viên y tế, đặc biệt sự cố do vật sắc nhọn. Dạng phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất qua đường máu của nhân viên y tế trong quá trình thực hiện quản lý chất thải là bị kim tiêm lây nhiễm hay bị dịch bệnh tiếp xúc vào vết thương… [13], Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thương kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV…[13] Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm CTYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B… Chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua da: (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải). Việc quản lý CTYT lây nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong bệnh viện.
Chẳng hạn một số người có khả năng bị lây nhiễm các bệnh mà họ không mắc phải trước khi đến bệnh viện, nhưng khi đến và làm việc trong bệnh viện sau một thời gian bị mắc bệnh 7 hoặc đem mầm bệnh đến nơi họ ở ví dụ như bệnh lao, bệnh do virus…[13] Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm, mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng. Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi, có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như gan, thận. Một số ví dụ về ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm, thủy ngân là một chất độc hại trong CTYT. Thủy ngân có mặt trong một số thiết bị y tế, nhất là các thiết bị chẩn đoán như: nhiệt kế thủy ngân, huyết áp kế thủy ngân và một số nguồn khác như khi bóng đèn huỳnh quang, compact sử dụng bị vỡ.
Chất khử trùng được dùng với số lượng lớn trong BV, chúng thường có tính ăn mòn và có thể kết hợp thành các hợp chất có độc tính cao hơn. Dư lượng các hóa chất sử dụng tại các phòng xét nghiệm khi thải vào hệ thống thoát nước có thể ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hoặc các hệ sinh thái tự nhiên của các nguồn nước tiếp nhận. Tương tự như vậy đối với dư lượng dược phẩm trong các chất thải có chứa dược phẩm. Dư lượng dược phẩm thải có thể bao gồm các loại kháng sinh, các thuốc khác nếu không được xử lý khi thải vào các nguồn nước tiếp nhận sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường sống và các loài thủy sinh trong các nguồn nước tiếp nhận [13].
Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu. Một số chất gây độc tế bào có thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt là da và mắt, một số triệu chứng thường gặp là chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da. Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ, ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào 8 loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc. Trong bệnh viện, các chất phóng xạ thường có chu kỳ bán rã ngắn (kéo dài từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần).
Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất thường, ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và các vấn đề về di truyền [13]. Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường Chất thải y tế có thể tác động xấu tới tất cả các khía cạnh của môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí. Mặt khác, xử lý CTYT, không đúng phương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên thiên nhiên [5]. Đối với môi trường đất: Quản lý CTYT không đúng quy trình và việc tiêu hủy CTYT tại các bãi chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn [5].
Đối với môi trường không khí: Chất thải y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra tác động xấu tới môi trường không khí. Bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất, phát sinh trong các khâu phân loại - thu gom - vận chuyển, CTYT có thể phát tán vào không khí. Trong khâu xử lý, đặc biệt là với các lò đốt CTYT quy mô nhỏ, không có thiết bị xử lý khí thải có thể phát sinh ra các chất khí độc, ô nhiễm bụi, các khí axit, kim loại nặng [5]. Đối với môi trường nước: Tác động của CTYT đối với các nguồn nước có thể so sánh với nước thải sinh hoạt.
Tuy nhiên, nước thải từ các cơ sở y tế còn có thể chứa Salmonella, Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng, các hóa chất độc hại, chất hữu cơ, kim loại nặng. Do đó, nếu không được xử lý triệt để trước khi xả thải vào nguồn nước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồn tiếp nhận được sử dụng cho sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi, sẽ có nguy cơ gây ra 9 một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A… cho những người sử dụng các nguồn nước này [5].