Tổng quan nghiên cứu

Thực hiện Quyết định số 522/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh phổ thông giai đoạn 2019 - 2025, việc tích hợp giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) đã trở thành trọng tâm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam. Kể từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thí điểm tại 14 trường trung học thuộc 5 tỉnh thành từ năm 2014, hơn 79 chủ đề STEM đã được tổ chức thực nghiệm tại Hà Nội. Tuy nhiên, việc chuyển đổi từ phương thức dạy học truyền thống sang mô hình trải nghiệm sáng tạo đang tạo ra nhiều rào cản tâm lý, nhận thức và năng lực đối với học sinh trung học cơ sở.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết sự thiếu hụt các công cụ đo lường chuẩn hóa để đánh giá những khó khăn thực tế mà học sinh gặp phải trong quá trình tiếp cận các môn học tích hợp. Mục tiêu cụ thể của đề tài là xây dựng và kiểm định một thang đo khoa học có độ tin cậy cao, giúp lượng hóa các rào cản học tập, từ đó hỗ trợ giáo viên và cán bộ quản lý đưa ra giải pháp điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp.

Nghiên cứu được triển khai trên khách thể gồm 248 học sinh tại 06 trường trung học cơ sở có mô hình giáo dục STEM trên địa bàn thành phố Hà Nội trong khung thời gian 13 tháng, từ tháng 12/2018 đến tháng 12/2019. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp bộ công cụ đo lường đạt độ tin cậy Cronbach's Alpha trên 0.80, đóng góp cơ sở dữ liệu thực chứng cho việc chuẩn hóa quy trình đánh giá và triển khai giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên mô hình rào cản học tập của Wageeh Boles (2010), phân chia các khó khăn thành 3 nhóm yếu tố cốt lõi: môi trường giáo dục, hành vi hành động của học sinh và thuộc tính cá nhân. Mô hình này được tích hợp cùng quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm STEM 6 pha do Nguyễn Thanh Nga (2018) đề xuất, bao gồm các bước từ xác định vấn đề, thiết kế bản vẽ, chế tạo mẫu đến thử nghiệm và báo cáo sản phẩm.

Nghiên cứu vận dụng 3 khái niệm then chốt:

  • Giáo dục STEM tích hợp: Cách tiếp cận liên ngành trang bị kiến thức và kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn theo chuẩn của Hiệp hội Giáo viên Khoa học Quốc gia Mỹ (Tsupros, 2009).
  • Khó khăn trong học tập: Toàn bộ các yếu tố cản trở xuất phát từ nhận thức, tâm sinh lý lứa tuổi 12 - 16 tuổi và ngoại cảnh tác động làm suy giảm hiệu quả học tập (Kempa, 1991).
  • Năng lực thực hành kỹ thuật: Khả năng vận dụng tổng hòa các thao tác toán học, tư duy thiết kế, sử dụng công cụ chế tạo và kỹ năng giải quyết vấn đề theo định hướng của tổ chức nghiên cứu giáo dục khoa học NARST (2012).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình 7 bước phát triển công cụ đo lường theo chuẩn của Dimitrov (2012) và Streiner (2016). Cỡ mẫu khảo sát gồm 248 học sinh trung học cơ sở được lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 06 trường trung học cơ sở có câu lạc bộ hoặc tiết học STEM định kỳ tại Hà Nội. Lý do lựa chọn cỡ mẫu này nhằm đảm bảo tỷ lệ quan sát trên biến đạt mức tối thiểu 5:1 phục vụ phân tích nhân tố khám phá.

Dữ liệu định tính được thu thập qua phỏng vấn sâu giáo viên bộ môn và chuyên gia đo lường đánh giá để hiệu chỉnh ngân hàng câu hỏi. Dữ liệu định lượng được thu thập bằng bảng hỏi cấu trúc đóng sử dụng thang đo khoảng Likert 5 mức độ từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý. Toàn bộ dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0 thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha (yêu cầu hệ số lớn hơn 0.70 và tương quan biến tổng lớn hơn 0.30), phân tích nhân tố khám phá EFA với phương pháp trích Principal Axis Factoring và phép xoay Promax (chỉ số KMO lớn hơn 0.50, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê p < 0.05), kết hợp kiểm định T-test và phân tích phương sai ANOVA để so sánh sự khác biệt theo giới tính, khối lớp và học lực. Toàn bộ tiến trình khảo sát và thu thập số liệu thực địa diễn ra liên tục trong 13 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm đã xác lập 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, phân tích nhân tố khám phá EFA đã tinh giản bảng hỏi thành cấu trúc chuẩn hóa gồm 4 nhân tố khó khăn: khó khăn về nhận thức bản thân, khó khăn từ môi trường giáo dục, khó khăn về hành vi học tập và khó khăn về năng lực chuyên biệt STEM. Chỉ số KMO đạt trên 0.80 và kiểm định Bartlett có mức ý nghĩa p = 0.000 chứng minh tính tương thích rất cao của mô hình.

Thứ hai, toàn bộ 4 thang đo thành phần đều đạt hệ số tin cậy Cronbach's Alpha từ 0.81 đến 0.89, với hệ số tương quan biến tổng của tất cả các biến quan sát đều vượt ngưỡng 0.35, khẳng định thang đo có độ nhất quán nội tại hoàn hảo.

Thứ ba, kiểm định ANOVA cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0.05) về mức độ khó khăn giữa các khối lớp. Học sinh lớp 9 ghi nhận điểm trung bình khó khăn cao hơn khoảng 18% so với học sinh lớp 6 và lớp 7, đặc biệt ở khía cạnh phân bổ thời gian học tập do chịu áp lực trực tiếp từ kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10.

Thứ tư, khảo sát rào cản môi trường chỉ ra rằng trên 60% học sinh phản ánh tình trạng thiếu trang thiết bị thí nghiệm hiện đại, trong khi thời lượng học tập STEM tại các trường công lập chỉ dừng lại ở mức 1 đến 2 giờ mỗi tuần dưới dạng câu lạc bộ ngoại khóa tự nguyện.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu phân bố điểm trung bình của các nhân tố khi thể hiện qua biểu đồ phân tán và biểu đồ Scree Plot cho thấy điểm nghẽn lớn nhất của học sinh nằm ở khâu thiết kế kỹ thuật và chế tạo sản phẩm. Nguyên nhân chính là do chương trình học truyền thống còn nặng tính hàn lâm, học sinh quen với bài tập tính toán trên giấy nhưng thiếu kỹ năng vận hành công cụ thực tế như kìm, cưa, súng bắn keo hay vi mạch.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Chew (2014) trên 1215 học sinh trung học tại Malaysia, khi tác giả chỉ ra rằng các bài kiểm tra định kỳ không đánh giá được tư duy thiết kế kỹ thuật. Đồng thời, thực trạng này cũng phản ánh đúng 10 rào cản giáo dục STEM tại Mỹ theo công bố của James (2006), đặc biệt ở sự hạn chế về cơ sở vật chất phòng lab và tâm lý học chỉ để phục vụ thi cử. Việc bảng ma trận xoay nhân tố hội tụ rõ nét 4 nhóm khó khăn chứng minh rằng việc triển khai STEM tại Việt Nam đòi hỏi một giải pháp đồng bộ từ thay đổi nhận thức, bồi dưỡng năng lực học sinh đến tái cấu trúc cơ sở vật chất học đường.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, đổi mới căn bản phương thức kiểm tra đánh giá. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cần chỉ đạo đưa các câu hỏi đánh giá năng lực tư duy liên môn và giải quyết vấn đề thực tiễn vào đề thi định kỳ, phấn đấu giảm tỷ trọng các câu hỏi ghi nhớ lý thuyết thuần túy xuống dưới 70% theo lộ trình giai đoạn 2020 - 2025.

Thứ hai, nâng cấp không gian sáng tạo và cơ sở vật chất thực hành. Ban giám hiệu các trường trung học cơ sở cần ưu tiên bố trí nguồn ngân sách và kêu gọi xã hội hóa để trang bị tối thiểu 01 phòng thực hành STEM đa năng đạt chuẩn trong vòng 12 đến 24 tháng, bảo đảm cung cấp đầy đủ công cụ kỹ thuật cơ bản và máy tính kết nối mạng cho học sinh nghiên cứu.

Thứ ba, chuẩn hóa chương trình bồi dưỡng chuyên môn giáo viên. Các trường đại học sư phạm và các viện nghiên cứu giáo dục cần triển khai các khóa tập huấn với thời lượng tối thiểu 40 giờ mỗi năm cho giáo viên khoa học tự nhiên, tập trung vào kỹ năng xây dựng chủ đề tích hợp liên môn, quản lý hoạt động dự án và kỹ thuật đánh giá năng lực học sinh.

Thứ tư, chính khóa hóa chương trình giáo dục STEM. Nhà trường cần chuyển đổi mô hình từ sinh hoạt câu lạc bộ ngoại khóa sau giờ học (1 đến 2 tiết mỗi tuần) sang việc tích hợp trực tiếp các chủ đề STEM vào phân phối chương trình chính khóa với thời lượng ổn định 1 tiết mỗi tuần, bảo đảm 100% học sinh các khối lớp 6, 7, 8 và 9 đều được tiếp cận công bằng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm cán bộ quản lý giáo dục và hiệu trưởng các trường trung học cơ sở: Sử dụng kết quả và thang đo của luận văn như một công cụ chẩn đoán định kỳ để đánh giá mức độ sẵn sàng của đơn vị, từ đó hoạch định chính sách đầu tư cơ sở vật chất và phân bổ thời khóa biểu hợp lý khi triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới.

Nhóm giáo viên giảng dạy các bộ môn Khoa học tự nhiên, Toán học và Công nghệ: Vận dụng trực tiếp bảng hỏi 4 nhân tố để nắm bắt chính xác các điểm nghẽn về nhận thức và kỹ năng của học sinh trong từng dự án STEM, từ đó thiết kế giáo án trải nghiệm phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Nhóm học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục: Tham khảo quy trình 7 bước chuẩn hóa thang đo khoa học, phương pháp kết hợp định tính - định lượng và kỹ thuật xử lý dữ liệu nâng cao bằng SPSS 22.0 làm tài liệu đối sánh cho các đề tài nghiên cứu liên quan.

Nhóm các tổ chức giáo dục STEM và doanh nghiệp phát triển học liệu: Khai thác các phát hiện thực chứng về tâm lý lứa tuổi 12 - 16 tuổi để tối ưu hóa thiết kế các bộ kit thực hành, giáo trình bổ trợ và chương trình đào tạo kỹ năng STEM bám sát thực tiễn Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Thang đo khó khăn học tập STEM trong luận văn bao gồm những nhân tố cụ thể nào? Thang đo chuẩn hóa gồm 4 nhân tố chính: khó khăn về nhận thức của học sinh, khó khăn từ môi trường giáo dục, khó khăn về hành vi học tập và khó khăn về năng lực chuyên biệt. Cấu trúc này được kiểm định trên 248 học sinh với hệ số Cronbach's Alpha toàn diện đạt trên 0.80.

Tại sao học sinh trung học cơ sở thường gặp rào cản lớn nhất ở kỹ năng thiết kế kỹ thuật? Do chương trình giáo dục phổ thông hiện hành vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết đơn môn. Khi đối mặt với nhiệm vụ STEM đòi hỏi liên kết kiến thức Vật lý, Toán học để vẽ bản thiết kế và tự tay lắp ráp sản phẩm, học sinh thường lúng túng do chưa từng được rèn luyện kỹ năng thực hành kỹ thuật.

Khối lớp nào trong trường trung học cơ sở gặp nhiều khó khăn nhất khi theo học STEM? Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy học sinh khối lớp 9 gặp khó khăn lớn nhất về mặt thời gian và tâm lý. Do áp lực thi tuyển sinh vào lớp 10 với các bài thi lý thuyết trắc nghiệm, học sinh lớp 9 khó duy trì thời gian tham gia các dự án trải nghiệm STEM kéo dài.

Độ tin cậy và giá trị cấu trúc của thang đo được chứng minh qua các chỉ số nào? Thang đo đạt độ tương thích hoàn hảo với chỉ số KMO đạt trên 0.80, kiểm định Bartlett đạt p = 0.000, hệ số tải nhân tố của các biến quan sát đều vượt mức 0.35 qua phép xoay Promax và độ tin cậy nội tại Cronbach's Alpha của từng nhân tố dao động từ 0.81 đến 0.89.

Làm thế nào để các trường giải quyết khó khăn về thiếu hụt phòng thí nghiệm STEM? Nhà trường có thể tận dụng phòng học bộ môn hiện có, bổ sung các bộ dụng cụ cầm tay phổ thông có chi phí thấp và thiết kế các chủ đề STEM tái chế từ vật liệu sẵn có ở địa phương, kết hợp liên kết ngoại khóa với các trường đại học lân cận.

Kết luận

  • Xây dựng thành công bộ thang đo chuẩn hóa gồm 4 nhân tố để đánh giá toàn diện khó khăn học tập STEM của học sinh trung học cơ sở.
  • Cung cấp minh chứng thực nghiệm từ 248 học sinh tại 06 trường trung học cơ sở ở Hà Nội với các chỉ số thống kê SPSS 22.0 đạt độ tin cậy và độ giá trị cao.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn trọng yếu về áp lực thi cử lý thuyết, sự thiếu hụt trang thiết bị thực hành và hạn chế về tư duy thiết kế kỹ thuật của học sinh.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ hướng tới mục tiêu hoàn thiện giáo dục hướng nghiệp STEM trong chương trình giáo dục phổ thông theo lộ trình đến năm 2025.
  • Các cơ sở giáo dục trung học cơ sở nên áp dụng ngay bộ thang đo này để chẩn đoán rào cản học tập thực tế và tối ưu hóa hiệu quả giảng dạy STEM trong nhà trường.