chương 1 trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2 là cơ sở lý thuyết trình bày các khái niệm đạo đức, đạo đức kinh doanh, đạo đức kế toán, giáo dục đạo đức kinh doanh và đạo đức kế toán ở trường đại học; những nghiên cứu trong và ngoài nước; thang đo nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của giáo dục đạo đức kinh doanh và đạo đức kế toán. Tiếp đến bối cảnh nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, thiết kế nghiên cứu sẽ được trình bày ở chương 3. Chương 4 cho thấy kết quả nghiên cứu và thảo luận, cuối cùng là kết luận và đề xuất được thể hiện ở chương 5.1 Đạo đức “Ethics” được bắt nguồn từ “ethos” của Hy Lạp mang ý nghĩa tính cách, tinh thần, hoặc thái độ của một nhóm người hoặc một nền văn hóa (Rahman, 2003).
Theo Mahdavikhou và Khotanlou (2012, tr. 1318) thì “đạo đức là một yêu cầu thiết yếu cho một xã hội lành mạnh và hoàn chỉnh”. Hành vi đạo đức đã được nhấn mạnh trở thành một yếu tố quan trọng của sự bền vững (Nguyen và cs. “Đạo đức là một yếu tố thiết yếu của sự thành công ở cấp độ cá nhân và tổ chức” và “đạo đức bao gồm tất cả chuẩn mực mà những người lý trí sẽ chọn để điều chỉnh cách cư xử trong xã hội nếu họ biết các quy định có thể áp dụng cho họ” (Wiley, 1995, tr.
Đạo đức học cũng chỉ ra sự phản ánh triết học về niềm tin và thực tiễn (Rahman, 2003). Do đó, Pusti (2017) cũng đã phát biểu rằng đạo đức là một nhánh của Triết học và được coi là khoa học chuẩn mực vì nó liên quan đến các chuẩn mực hành vi của con người. Tất cả đều nói lên rằng, đạo đức liên quan tới hành vi của con người, một phạm trù rộng nhưng đều quy kết về một mối – con người, bao gồm những hành vi chuẩn mực mà con người lựa chọn để phù hợp với một xã hội lành mạnh, phát triển, mang lại thành công nhất định cho họ.2 Đạo đức kinh doanh (business ethics) Lewis (1985, tr. 381) đã phát biểu “đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, luật lệ hoặc nguyên tắc để chỉ dẫn hành vi ứng xử chuẩn mực và trung thực trong những trường hợp nhất định”.
Động lực đạo đức hướng dẫn kinh doanh liên quan đến mong muốn làm điều đúng đắn, không có áp lực từ bên ngoài hoặc sự ràng buộc từ chính phủ (Joyner & Payne, 2002, tr. Thêm vào đó, đạo đức kinh doanh không chỉ bao gồm việc tuân thủ pháp luật mà còn quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi cho những người có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp và quyền lợi của cộng đồng (Nguyễn Hoàng Ánh, 2009). Drucker (1981) đã nói rằng đạo đức đối với người lãnh đạo, đặc biệt là đối với người điều hành doanh nghiệp, phải thể hiện rõ trách nhiệm xã hội. Do đó xây dựng đạo đức kinh doanh làm cơ sở cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội, là một trong những yếu tố quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế thị trường (Đỗ Thị Kim Hoa, 2009).
Và hành vi đạo đức rất quan trọng đối với xã hội hiện đại, kể cả giới kinh doanh nói chung hay kế toán nói riêng (Kerr & Smith, 1995). 5 Đồng thời đạo đức kinh doanh lành mạnh được thể hiện theo như nghiên cứu của Cao Duy Hạ (2009): Làm giàu cho mình đồng thời làm giàu cho đất nước. Kinh doanh trong khuôn khổ luật pháp. Thực hiện đúng luật Cạnh tranh, tham gia cạnh tranh lành mạnh, không hại người để lợi riêng mình.
Bình đẳng về xã hội và sòng phẳng, minh bạch lợi ích với người lao động. Trung thực đối với các bạn hàng, với người tiêu dùng, giữ chữ “tín” trong kinh doanh. Phấn đấu đưa doanh nghiệp của mình phát triển đi theo con đường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từng nhà doanh nghiệp phải thường xuyên học tập, rèn luyện nâng cao năng lực tổ chức quản lý kinh doanh và chấp hành đúng luật pháp.
Cao Minh Toàn và Nguyễn Minh Châu (2018) cho thấy vai trò của đạo đức trong hoạt động kinh doanh có thể tạo ra lợi nhuận tăng cao vì mang đến: Sự tin tưởng của khách hàng và nhân viên. Sự trung thành của nhân viên. Sự thỏa mãn của khách hàng. Chất lượng tổ chức.
Do đó, đạo đức kinh doanh không chỉ liên quan đến phẩm chất tốt, tính chính trực, tính cách của ai, mà bao gồm cả sự hiểu của bản thân về mặt đúng và sự thật trong tình huống đạo đức tiến thoái lưỡng nan (Lewis, 1985). Bên cạnh đó, đạo đức kinh doanh còn gắn liền với quyền lợi của các bên liên quan như khách hàng, chủ nợ, nhà cung cấp, nhân viên, … và cuối cùng là trách nhiệm đối với xã hội.3 Đạo đức kế toán (accounting ethics) Đạo đức kế toán được xem là mối quan tâm quan trọng nhất, nhưng lại bị hiểu lầm nhiều nhất trong giới kinh doanh ngày nay (Onyebuchi, 2011). Đạo đức kế toán là một trong những điều quan trọng nhất trong các vai trò của nghề kế toán và người kế toán chuyên nghiệp phải có trách nhiệm tuân thủ các tiêu chuẩn cao về đạo đức nghề nghiệp để cung cấp các thông tin công bằng cho công chúng (Hermawan & Kokthunarina, 2018). Và tầm quan trọng của đạo đức kế toán chủ yếu nằm ở ảnh hưởng thực tế đối với cuộc sống của các cá nhân trong xã hội (Rahman, 2003).
Cuối cùng được Hermawan và 6 Kokthunarina (2018) định nghĩa “là nguyên tắc đạo đức hoặc giá trị mà kế toán sử dụng để tránh gian lận”. Các nguyên tắc đạo đức kế toán được quy định trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của kế toán, kiểm toán do Bộ Tài chính (2015) ban hành: Tính chính trực: Phải thẳng thắn, trung thực trong tất cả các mối quan hệ chuyên môn và kinh doanh; Tính khách quan: Không cho phép sự thiên vị, xung đột lợi ích hoặc bất cứ ảnh hưởng không hợp lý nào chi phối các xét đoán chuyên môn và kinh doanh của mình; Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: Thể hiện, duy trì sự hiểu biết và kỹ năng chuyên môn cần thiết nhằm đảm bảo rằng khách hàng hoặc chủ doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ chuyên môn có chất lượng dựa trên những kiến thức mới nhất về chuyên môn, pháp luật và kỹ thuật, đồng thời hành động một cách thận trọng và phù hợp với các chuẩn mực nghề nghiệp và kỹ thuật được áp dụng; Tính bảo mật: Phải bảo mật thông tin có được từ các mối quan hệ chuyên môn và kinh doanh, vì vậy, không được tiết lộ bất cứ thông tin nào cho bên thứ ba khi chưa được sự đồng ý của bên có thẩm quyền, trừ khi có quyền hoặc nghĩa vụ phải cung cấp thông tin theo yêu cầu của pháp luật hoặc cơ quan quản lý hoặc tổ chức nghề nghiệp, và cũng như không được sử dụng thông tin vì lợi ích cá nhân của kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp hoặc của bên thứ ba; Tư cách nghề nghiệp: Phải tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan, tránh bất kỳ hành động nào làm giảm uy tín nghề nghiệp của mình. Việc tuân thủ đạo đức kế toán sẽ giúp các kế toán viên luôn duy trì được một thái độ nghề nghiệp đúng đắn, giúp bảo vệ và nâng cao uy tín cho nghề kế toán trong xã hội (Lê Đoàn Minh Đức & Thái Thị Cẩm Giang, 2018). Do đó, duy trì đạo đức kế toán là một nguyên tắc không thể thiếu đối với người làm nghề kế toán, thể hiện trách nhiệm của kế toán viên đối với nghề nghiệp và xã hội.
Đạo đức kế toán mang lại cho kế toán viên những quy tắc để tránh gian lận, làm mất đi giá trị bản thân và doanh nghiệp.4 Giáo dục đạo đức kinh doanh và đạo đức kế toán trong trường đại học Theo Nguyen và cs. (2013) thì các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc phát triển các chương trình giáo dục và đào tạo đạo đức để xây dựng xã hội và môi trường làm việc có đạo đức lành mạnh, đạt 7 được sự tăng trưởng bền vững và phồn vinh. Giáo dục đạo đức là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến môi trường đạo đức kinh doanh (Alam, 1995). Theo Alam (1999, tr.
270), “khóa học kế toán nên được phát triển làm cho sinh viên nhận thức được giá trị phẩm chất và đạo đức”. Giáo dục đạo đức kinh doanh và giáo dục đạo đức kế toán được coi là “một phần của các nỗ lực đánh giá liên tục tại hầu hết các trường học, và đã là một phần của tiêu chuẩn công nhận giáo dục kế toán và kinh doanh trong một thời gian khá dài” (Brenner, Watkins & Flynn, 2012, tr. Bên cạnh đó giáo dục đạo đức kế toán ở các nước phát triển đã được thảo luận trong một thời gian dài (Caliyurt, 2007). Theo đó giáo dục được đề xuất như một phương pháp để cải thiện đạo đức trong nghề kế toán (Thomas, 2012).
Và các tiêu chuẩn đạo đức kế toán ngày càng tăng đã tạo ra nhiều áp lực cho trường kinh doanh trong việc đào tạo nghề kế toán tương lai (Pusti, 2017). Đối với Ciulla (2011) thì lịch sử nên là một phần của bất kỳ một khóa học đạo đức kinh doanh nào, theo đó lịch sử sẽ được đưa vào các bài học tình huống. Bằng cách đó, bối cảnh lịch sử sẽ trở thành một trường hợp cụ thể hoặc so sánh các trường hợp đương thời với các trường hợp tương tự trong quá khứ. Kết quả là sinh viên có cái nhìn sâu sắc hơn về các giá trị và động lực hình thành hành vi của con người trong kinh doanh.
Theo Gandz và Hayes (1988) việc giáo dục đạo đức kinh doanh nên được kết hợp vào tất cả các môn học kinh doanh, không phân biệt môn tự chọn hay bắt buộc. Điều đó yêu cầu tất cả các giảng viên phát triển kỹ năng phân tích sơ bộ, và nhận thức đối với các vấn đề trong phạm vi môn học mà họ phụ trách.