Mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức. Chƣơng 2: Thực trạng giáo dục đạo đức cho sinh viên trƣờng Cao đẳng Bách Việt Thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Hệ thống giải pháp tổ chức các hoạt động hoạt động ngoại khóa trong giáo dục đạo đức cho sinh viên trƣờng Cao đẳng Bách Việt Tp.Hồ Chí Minh. Kết luận và kiến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức trên thế giới và tại Việt Nam. Trên thế giới: Từ trƣớc đến nay, trong mọi thời đại, vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh luôn đƣợc xác định là vấn đề quan trọng hàng đầu trong nhà trƣờng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức từ góc độ tâm lý học, giáo dục học của các tác giả trong nƣớc và trên thế giới đã đƣợc phổ biến nhƣ: Quyển “Bàn về tâm hồn” của Arixtot (384 – 322 trƣớc CN) đã đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức, theo ông nội dung của đạo đức là “Biết định hƣớng, biết làm việc, biết tìm tòi”. Khổng Tử (551 – 479 trƣớc CN) – nhà giáo dục lớn của Trung Quốc trong các tác phẩm: Dịch, Thi, Thƣ, Lễ, Nhạc, Xuân Thu bàn rất nhiều về lĩnh vực giáo dục đạo đức.
Ông cho rằng: thông qua giáo dục để tạo ra lớp ngƣời “trị quốc” muốn vậy học phải đi đôi với hành, ông đánh giá cao vai trò của cá nhân trong việc tu dƣỡng, học thầy, học bạn, học trong cuộc sống. Tác phẩm “Bài ca sƣ phạm” của A.Makarenco (1888 – 1939) nhấn mạnh vai trò giáo dục đạo đức và đƣa ra các biện pháp giáo dục đúng đắn.Xukhomlinxki với tác phẩm lớn: “Trái tim tôi hiến dâng cho trẻ” đã tổng kết tƣ tƣởng sƣ phạm của mình đối với bậc tiểu học. Tổng thống Thevdove Rooseselt đã từng nói “Giáo dục một ngƣời về trí não mà không giáo dục về tâm hồn, đạo đức thì coi nhƣ giáo dục một kẻ gây họa cho xã hội”. Vấn đề giáo dục đạo đức, đặc biệt là đạo đức nghề nghiệp cũng đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan niệm rằng nội dung giáo dục đạo đức cần tập trung rèn luyện những tố chất cơ bản của nhân cách nhƣ tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tinh thần hợp tác tốt đẹp.
7 Đặc trƣng giáo dục đạo đức ở Nhật Bản tập trung vào ba điểm: Lòng tôn trọng cuộc sống, quan hệ cá nhân và cộng đồng. Khác với nhiều nƣớc thực hiện giáo dục đạo đức chủ yếu thông qua một môn học, Nhật Bản thực hiện qua tất cả các môn học, các hoạt động, đặc biệt là qua sinh hoạt hàng ngày. Tại Mỹ, mục tiêu giáo dục đạo đức của Mỹ là cung cấp cho học sinh và sinh viên những kiến thức và cơ hội thực hành, vận dụng để xây dựng đƣợc nền tảng tính cách bền vững, hài hòa trên ba mục tiêu lớn của cuộc đời; Giáo dục học sinh, sinh viên trở thành những công dân có trách nhiệm, hiểu biết và có thể tham gia hiệu quả vào đời sống chính trị, xã hội của đất nƣớc. Nội dung giáo dục đạo đức của Mỹ bao gồm 6 trụ cột đó là: sự tin cậy, tôn trọng, tinh thần trách nhiệm, công bằng, quan tâm, bổn phận công dân.
Phƣơng pháp giáo dục đạo đức ở Mỹ là nêu gƣơng, giải thích, cổ vũ, khích lệ, bảo đảm môi trƣờng đạo đức, trải nghiệm. Nhƣ vậy giáo dục đạo đức là vấn đề, đƣợc nhiều nhà nghiên cứu và quốc gia trên thế giới rất quan tâm. Trong nƣớc: Từ những năm 60, 70 đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức từ góc độ tâm lý học, giáo dục học của các tác giả trong nƣớc đã đƣợc công bố nhƣ: - GS. Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa học, nhất là các môn khoa học xã hội và nhân văn.
Nguyễn Đức Minh nghiên cứu và trình bày cơ sở tâm lý giáo dục học của giáo dục đạo đức.TSKH Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trƣng tâm lý học để khảo sát hành vi và họat động, nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách, thực hiện giáo dục đạo đức thông qua quá trình phát triển nhân cách, xem đó nhƣ mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lƣợng giáo dục.TS Phạm Tất Dong đã đi sâu nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hƣớng nghiệp, gắn kết họat động này với gíao dục 8 đạo đức nhằm đạt đƣợc mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp và lý tƣởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ. Phạm Hoàng Gia nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục nhận thức khoa học với giáo dục đạo đức, những biểu hiện nhân cách trong lối sống và đƣa ra dự báo mô hình nhân cách thanh niên năm 2000. Có những đề tài tiêu biểu nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên, nhƣ: - Đề tài NN7 “Cải tiến công tác giáo dục tƣ tƣởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân do GS. Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm.
- Đề tài “Các biện pháp giáo dục tính kỷ luật cho học sinh đầu bậc tiểu học” của TS.Phạm Minh Hùng. - Đề tài “Xây dựng quan hệ giữa gia đình và nhà trƣờng nhằm nâng cao kết quả giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 1” của Thạc sĩ Thiều Thị Hƣờng. - “Quy trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho học sinh lớp 4-5” của PTS. - Đề tài “Tìm hiểu về nhận thức, lối sống và hành vi đạo đức của học sinh Trung học cơ sở tại Tp.
Hồ Chí Minh”.79, tác giả Đào Thị Vân Anh. - Đề tài “Đánh giá sự tác động của một số yếu tố xã hội và gia đình tới quá trình rèn luyện tƣ cách đạo đức của học sinh trung học phổ thông”.6, tác giả Đào Thị Vân Anh. - Đề tài “Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và giáo dục đạo đức cho sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Tác giả: PGS – TS Huỳnh Thị Gấm, thạc sĩ Phạm Tấn Xuân Tƣớc.
- Đề tài “Tìm hiểu về thực trạng và giải pháp giáo dục nhân cách cho sinh viên các trƣờng đại học, cao đẳng hiện nay, thông qua khảo sát một số trƣờng phía Bắc”. Tác giả Hà Văn Phan, trƣờng đại học Mỏ - Địa chất. 9 Các đề tài trên đã tập trung hệ thống lý luận về vấn đề giáo giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên; chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh. Đặc biệt, Đề tài đã đã cụ thể hóa, làm rõ hơn sự cần thiết, cấp bách của công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên trong giai đoạn hiện nay.
Về mặt thực tiễn, Đề tài đã chỉ ra những kết quả đạt đƣợc; những tồn tại, hạn chế, bất cập trong công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên. Đồng thời chỉ ra đƣợc nguyên nhân cụ thể của những kết quả cũng nhƣ nguyên nhân hạn chế trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên một cách toàn diện. Nhƣ vậy, vấn đề giáo dục đạo đức và đặc biệt là giáo dục đạo đức cho học phổ thông đã đƣợc các nhà khoa học, các nhà sƣ phạm rất quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống giáo dục dục đạo đức cho sinh viên hệ cao đẳng thông qua hoạt động ngoại khóa tại TP.
Hồ Chí Minh - một thành phố lớn chịu nhiều ảnh hƣởng và tác động của những mặt trái của cơ chế thị trƣờng. Đây là một vấn đề có tính quan trọng và hết sức cần thiết mà các nhà quản lý giáo dục phải quan tâm. Đó cũng là lý do đã thôi thúc chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn góp đƣợc một phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả của việc giáo dục đạo đức cho sinh viên cao đẳng. Mội số khái niệm cơ bản.1 Khái niệm về đạo đức Đạo đức là khái niệm triết học, nhƣng nó lại tồn tại ở mỗi ngƣời trong một xã hội – lịch sử nhất định.
Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi của con ngƣời trong quan hệ với ngƣời khác và với cộng đồng (gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc và toàn xã hội). Căn cứ vào những chuẩn mực ấy, ngƣời ta đánh giá hành vi của mỗi con ngƣời theo các quan niệm về thiện và ác, về cái không làm đƣợc (vô đạo đức) và về nghĩa vụ phải làm. Khác với pháp luật, các chuẩn mực đạo đức không ghi thành văn bản pháp quy có tính cƣỡng chế, song đều đƣợc mọi ngƣời thực hiện do sự thôi thúc của 10 lƣơng tâm cá nhân và của dƣ luận xã hội. Đạo đức ra đời và phát triển do nhu cầu của xã hội phải điều tiết mối quan hệ giữa các cá nhân và hoạt động chung của mỗi con ngƣời trong lĩnh vực đời sống xã hội.
Tính đạo đức biểu hiện bản chất xã hội của con ngƣời, là nét cơ bản trong tính ngƣời. Sự tiến bộ của ý thức đạo đức là cái không thể thiếu trong sự tiến bộ chung của xã hội. Đạo đức là một biểu hiện lịch sử, là sự phản ánh các mối quan hệ xã hội. Mỗi xã hội có đạo đức của xã hội đó.
Khi xã hội có biến đổi, cơ sở kinh tế và cơ cấu xã hội thay đổi, đạo đức cũng thay đổi. Đạo đức là một hiện tƣợng lịch sử, xuất hiện ngay từ giai đoạn đầu tiên trong xã hội loài ngƣời mới hình thành, đạo đức đƣợc phát triển trong tiến trình biến đổi các quan hệ kinh tế và các quan hệ xã hội khác nhau, trong quá trình phát triển, tiến bộ văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của loài ngƣời. Bên cạnh những giá trị chung của nhân loại, đạo đức bao gồm những tiêu chuẩn, những nguyên tắc, những lý tƣởng.có tính nhất thời về lịch sự và có tính giai cấp. Trong môi trƣờng xã hội, để tồn tại và phát triển con ngƣời phải hoạt động và tham gia các mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với mọi ngƣời xung quanh.