Đặt vấn đề Đảng bộ huyện Lục Yên (nhiệm kỳ 2010-2015) xác định cơ cấu kinh tế của huyện đến năm 2015 là nông, lâm, công nghiệp và dịch vụ. Mỗi năm phấn đấu trồng mới 2.400ha rừng trở lên, nâng và duy trì độ che phủ rừng đến năm 2015 đạt trên 66% tổng diện tích tự nhiên toàn diện. Xác định lâm nghiệp là thế mạnh của tỉnh Yên Bái, thực hiện quyết định số 147/2007/QĐ-TTg của Thủ Tướng chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015. Hội đồng nhân dân tỉnh ban nghị quyết số 32/2012/NQ-HĐND ngày 09/08/2012 về việc phê duyệt chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất một số cây trồng trong phát triển nông nghiệp chính và trồng rừng sản xuất tỉnh Yên Bái giai đoạn 2012-2015.
Đây là chính sách thiết thực nhằm khuyến khích nhân dân tham gia trồng rừng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh Yên Bái nói chung và xã Minh Xuân nói riêng. (Đề án xây dựng nông thôn mới của tỉnh Yên Bái) Minh Xuân là xã miền núi vùng cao thuộc huyện Lục Yên, việc đưa những loại cây trồng trên đất lâm nghiệp có giá trị kinh tế phù hợp với điều kiện địa lý, thổ nhưỡng là rất cần thiết. Trong những năm gần đây công tác trồng rừng trên địa bàn xã Minh Xuân đã đẩy mạnh vận động nhân dân trồng và chăm sóc rừng. Diện tích rừng trồng mới hàng năm tăng dần vượt kế hoạch của huyện Lục Yên giao.
Tuy nhiên, trên địa bàn xã hiện nay nhân dân chủ yếu tập trung phát triển cây Mỡ là chủ yếu. Theo thống kê của Phòng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lục Yên, diện tích Mỡ đang gặp nhiều bất lợi như: Năm 2012 do tình hình sâu bệnh hại phát triển mạnh, cây phát triển chậm, gió bão là cây nghiêng ngả làm cho chất lượng gỗ kém…, nên hiệu quả kinh tế chưa 2 thực sự đạt hiệu quả cao. Để phát triển lâm nghiệp ở xã một cách bền vững trên cơ sở yêu cầu phải lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương, khắc phục những tồn tại hạn chế trong thực hiện công tác trồng rừng của xã trong những năm qua. Vì vậy đề tài “Đánh giá hiệu quả rừng trồng Bồ đề tại xã Minh Xuân, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái” là hết sức cần thiết và cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống cho người dân và góp phần quan trọng việc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay và tương lai.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được thực trạng phát triển rừng trồng tại xã Minh Xuân, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển rừng trồng Bồ đề tại địa bàn nghiên cứu. Hiệu quả của cây Bồ đề đem lại về kinh tế, xã hội và môi trường Đề suất được một số giải pháp phát triển rừng trồng cây Bồ đề tại đây. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Là đề tài trong quá trình học tập cũng như những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực liên quan. Góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên kiểm chứng lại kiến thức, học đi đôi với hành, vận dụng những điều trong sách vở vào trong quá trình học tập vào thục tế một cách có hiệu quả. Giúp sinh viên nẵm vững được các kiến thức đã học và áp dụng vào trong thực tiến một cách có hiệu quả. Ý nghĩa thực tiễn Xác định được thực trạng cũng như diện tích rừng trồng Bồ đề hiện có, tìm hiểu về lịch sử phát triển của cây Bồ đề và phương thức sản xuất nghề rừng từ đó đưa ra các giải pháp hợp lý trong việc phát triển cây Bồ đề trên địa bàn nghiên cứu.
3 Do chưa có bất cứ đề tài nào đánh giá về thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng Bồ đề tại xã Minh Xuân, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, nên khả năng áp dụng vào thực tiễn của đề tài cao, đồng thời có thể đưa vào vận dụng tại các địa bàn có điều kiện tương tự trên địa bàn huyện. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2. Trên thế giới 2.
Những kết quả nguyên cứu về điều kiện lập địa Nguyên cứu của Laurie (1974) đã cho thấy đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về nguồn gốc và lịch sử phát triển, điều này được thể hiện ở sự khác nhau về đặc điểm của các phấu diện đất, đó là độ dày tầng đất, cấu trúc vật lý, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến khả năng sinh trưởng rừng trồng trên các loại đất khác nhau là khác nhau. Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông Pinus patula ở Swziland, Julian Eván (1992) [13] đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài Thông này có quan hệ khá chặt (R=0,81) với các yếu tố địa hình và đất thông qua phương trình tương quan sau: Y=-18,76+0.5346x11 Trong đó: - Y chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m) ; - X3 là độ cao so với mực nước biển (m) ; - X4 độc cao chênh lệch giữa đỉnh đổi và chân đồi (%) ; - X5 độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%) ; - X11 độ phì của đất đã được xác định Kết quả nguyên cứu của Paydey D. (1983) [16] về loài bạch đàn Eucalyptus Camaldulensis được trồng trên các lập địa khác nhau đã cho thấy : Nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thì năng suất chỉ đạt 5-10m3/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thì năng suất có thể đạt 30m3/năm.
Kết quả này lại một lần nữa khẳng định điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau. 5 Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy việc xác định vùng trồng và điều kiện lập địa phù hợp với từng loại cây trồng là rất cần thiết và đây chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng. Những nguyên cứu về lâm sinh Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đặc biệt là ở những nơi đất xấu. Trên thế giới, việc áp dụng bón phân cho rừng trồng bắt đầu từ những năm 1950.
Trong vòng 1 thập kỷ, diện tích rừng được bón phân đã tăng lên 100.000ha/năm ở Nhật Bản, Thụy Điển và Phần Lan. Đến năm 1980, diện tích rừng được bón phân trên thế giới đã đạt gần 10 triệu ha (dẫn theo Đinh Văn Quang) [22]. Về vấn đề này đã có nhiều khoa học trên thế giới quan tâm đi vào sâu nghiên cứu, điển hình là công trình nguyên cứu của Mello (1976) [24] ở Brazin, tác giả cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công thức không bón phân, nhưng nếu bón phân NPK thì năng suất rừng trồng có thể tăng lên trên 50%. Mật độ trồng rừng ban đầu cũng là một trong những biện pháp lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng.
Đối với mỗi dạng lập địa, mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có cách sắp xếp, bố trí mật độ khác nhau. Nghiên cứu về chính sách và thị trường Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất chính là hiệu quả về kinh tế. Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài. Đồng thời, phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng với người dân.
Theo nghiên cứu của Ianuskơ.K (1996), vấn đề tiêu thụ sản phẩm cho các khu vực rừng trồng kinh tế có thể giải quyết được thông qua những kế hoạch xây dựng và phát triển các nhà 6 máy chế biến lâm sản với quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụ chính sách ‘‘đòn bẩy’’ nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng. Thom R Waggener (2000) để phát triển trồng rừng sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự đầu tư tập trung về kinh tế và kỹ thuật còn phải chú ý đến nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường. Nhận biết được hai vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất này nên tại các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Đức… Nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Trên quan điểm ‘‘Thị trường là chìa khóa của quá trình sản xuất’’, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng chính thị trường sẽ là câu hỏi cho sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hóa.
Trên quan niệm về sở hữu, Thomas Enters và Patrick B. Durst đã dẫn ra rằng trồng rừng có thể phân theo các hình thức sở hữu sau : - Sở hữu công cộng hay sở hữu nhà nước - Sở hữu tư nhân : rừng thuộc hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các nhà máy chế biến gỗ. - Sở hữu tập thể : rừng trồng thuộc các tổ chức xã hội. Liu Jinlong dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát triển trồng rừng như : - Rừng và đất rừng cần được tư nhân hóa.
- Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của nhà nước. - Giảm thuế đánh vào các lâm sản. - Đầu tư chính sách cho tư nhân trồng rừng. - Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng.
7 Qua nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay có ba vấn đề được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc gia chính là : - Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất. - Quy định rõ đối tượng được hưởng lợi từ rừng. - Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân. Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam đã và đang quan tâm giải quyết để thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia trồng rừng sản xuất, đặc biệt là khơi thông nguồn vốn tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho trồng rừng.