Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý luận thực tiễn về mô hình DEA và SFA đánh giá hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp chế biến, chế tạo. Chương 2: Thực trạng về hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam trong thời kỳ Covid — 19. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kỹ thuật cho các doanh nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam trong thời kỳ Covid — 19. PHAN NOI DUNG CHUONG 1: TONG QUAN TAI LIEU VA CO SO LY LUAN THUC TIEN VE MO HÌNH DEA VA SFA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUA KY THUAT CUA CÁC DOANH NGHIEP CHE BIEN, CHE TAO 1.
Tổng quan tài liệu 1. Tài liệu trong nước Đã có nhiều báo cáo trong nước nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp, trong đó các tác giả đo lường mức độ hiệu quả kỹ thuật của các nhóm doanh nghiệp được nghiên cứu, với mong muốn tìm ra các yếu tố mau chốt khiến một số doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả hơn một số doanh nghiệp khác. Theo bài báo cáo của Hoàng Thanh Hiền và Huỳnh Thị Diệu Linh (2022) về “Do lường hiệu qua kỹ thuật của doanh nghiệp có vốn nhà nước với các phương pháp ước lượng mới dành cho hàm sản xuất biên ngẫu nhiên” đo lường hiệu quả kỹ thuật bằng mô hình sản xuất biên ngẫu nhiên (SFA) với đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp có vốn nhà nước được khảo sát trong giai đoạn 2010-2019. Bài báo cáo đã chỉ ra hiệu quả kỹ thuật có mối liên hệ với lĩnh vực sản xuất, khi mà các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất hóa chất có hiệu quả kỹ thuật cao nhất, trong khi các doanh nghiệp chế tạo thiết bị, ô tô lại có hiệu quả kỹ thuật thấp nhất.
Một nghiên cứu khác của Lê Văn Dễ, Phạm Lê Thông (2019) về “Hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất bap lai ở Đồng bằng Sông Cửu Long” đo lường hiệu quả kỹ thuật của các hộ nông dân trồng lúa tại 3 khu vực là An Giang, Đồng Tháp và Trà Vinh. Trình độ kỹ thuật trong sản xuất được chỉ ra là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến hiệu quả kỹ thuật của mỗi nông hộ. Ngoài ra vị trí đất đai, số năm kinh nghiệm của hộ canh tác và số lượng đất sở hữu cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật. Kết quả nghiên cứu này gợi ý răng, đê nâng cao hiệu quả sản xuât của các hộ nông dân, cân đây mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào trong sản xuất.
Đồng thời chính phủ cũng cần có biện pháp quy hoạch, phân vùng và tập trung sản xuất, tạo ra các trọng điểm canh tác cây trồng, bởi các đặc điểm về mặt địa lý khiến cho không phải vùng đất nào cũng có năng suất trồng trọt giống nhau. Lê Ngọc Danh, Ngộ Thị Thanh Trúc (2021), thực hiện nghiên cứu “So sánh hiệu quả kỹ thuật mô hình nuôi cua-tôm ở tinh Kiên Giang và Ca Mau”. Mô hình tính toán hiệu quả kỹ thuật của nghiên cứu là mô hình phân tích bao dtr liệu (DEA) va sau đó khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật bằng phương pháp hồi quy Tobit. Khi hổi quy Tobit các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật ở 2 khu vực nghiên cứu là Kiên Giang và Cà Mau là rất khác nhau.
Tại Kiên Giang, chỉ có 2 yếu tô ảnh hưởng đến hiệu qua kỹ thuật là tập huấn và mật độ tôm. Trong khi Cà Mau có tới 5 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật là khoảng cách giữa các ao nuôi, mật độ nuôi và số lần thả. Nghiên cứu đưa ra lời giải thích, được củng cố thêm bằng một nghiên cứu khác của Nguyễn Thùy Trang và các cộng sự (2018) rằng khoảng cách giữa các ao nuôi, mật độ nuôi và số lần thả cần tuân theo một tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định dé đạt được hiệu quả sản xuất cao nhất, vì thế những hộ sản xuất chưa áp dụng đúng theo tiêu chuẩn này sẽ bị ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật. Nghiên cứu “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp vừa và nhỏ: phân tích biên ngẫu nhiên và các mô hình tỷ lệ” thực hiện bởi Hoàng Thị Thu Hà (2022), sử dụng bộ số liệu lấy từ Viện Khoa học Lao động và Xã hội với 2649 quan sát và 835 biến.
Hiệu quả kỹ thuật được tính toán bằng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu qua kỹ thuật được héi quy bằng mô hình Logit. Một điều đáng chú ý là theo kết quả nghiên cứu, năng suất lao động có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kỹ thuật, đi ngược lại quan điểm phổ biến cũng như một số nghiên cứu đi trước là năng suất lao động giúp nâng cao hiệu quả kỹ thuật. Tác giả Thu Hà nhận xét rằng điều này có thể do thiếu hụt biến quan trọng chưa chon đúng biến đại diện phù hợp. Các biến bổ sung được đề xuất tham khảo là biên vôn xã hội và biên hoạt động xuât khâu.
Nguyễn Minh Ngoc (2016), thực hiện nghiên cứu “Tac Động Của Nghiên Cứu Và Phát Triển, Tiếp Nhận Công Nghệ Đến Kết Quả Kinh Doanh Ở Các Doanh Nghiệp Ché Tạo - Chế Biến”. Mục đích của bài nghiên cứu này nhằm khám phá và đánh giá tác động trực tiếp và gián tiếp của nghiên cứu và phát triển, tiếp nhận công nghệ đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến - chế tạo. Số liệu của bài nghiên cứu được thu thập từ kết quả khảo sát 105 doanh nghiệp chế biến - chế tạo. Trong nghiên cứu nay, hai yếu tố quan trọng tác động đến hiệu qua kỹ thuật là yếu tố tiếp nhận công nghệ và yếu tố nghiên cứu và phát triển.
Cuối bài báo cáo, nghiên cứu đề xuất các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo cần phải cân đối hợp lý giữa chi phí nghiên cứu và nguồn lợi có thé nhận được đến từ nghiên cứu, phát triển công nghệ. Nghiên cứu về “Phân tích hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng thương mại cỗ phan tại Việt Nam” của Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Ngọc Thùy Trang (2020). Nghiên cứu này tính toán hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng thương mại bằng cả phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) và phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA). Về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật, nghiên cứu sử dụng kết hợp nhiều mô hình khác nhau như bình phương tối thiểu gdp (Pooled OLS), mô hình tác động ngẫu nhiên (FEM), phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (GLS).
Nghiên cứu kết luận rằng các chỉ số thuộc nhóm quản lý như ROA và ETA có ảnh hưởng đặc biệt đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng thương mại cổ phan tại Việt Nam. Tài liệu nước ngoài Theo các tác giả Barnabé Walheer, Ming He (2020) trong công bố khoa học “Technical efficiency and technology gap of the manufacturing industry in China: Does firm ownership matter?” do lường hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp ngành chế biến chế, chế tạo Trung Quốc và xoáy sâu vào câu hỏi: Quyền sở hữu tư nhân có ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật? Nghiên cứu được thực hiện trên quy mô rất lớn, sử dụng dữ liệu của 555 000 doanh nghiệp trong khoảng thời gian từ 1999 đến 2007, với hơn 2 triệu quan sát. Hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp được tính toán bằng một phương pháp “dựa trên DEA”, tức các nhà nghiên cứu đã phát triển một mô hình tính hiệu quả kỹ thuật dựa trên phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA), cộng thêm một số cải tiến và thay đôi cho phù hợp với tình huéng bài nghiên cứu sở hữu lượng mẫu rất lớn. Kết quả nghiên cứu xác nhận rằng sở hữu tư nhân là yếu tố rất quan trọng nhằm cải thiện hiệu quả kỹ thuật.
Điều này thể hiện đặc biệt rõ rằng khi các doanh nghiệp nước ngoài có hiệu quả kỹ thuật cao hơn hắn so với các doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trình độ khoa học kỹ thuật cũng giúp tăng hiệu quả kỹ thuật, và các thành tựu khoa học kỹ thuật có thé được nhận chuyền giao từ nước ngoài. Cuối cùng, nghiên cứu đề xuất rằng đối với các quốc gia dang trong quá trình chuyên đổi và mong muốn phát triển kinh tế, thì việc có các chính sách tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước là điều cần thiết. Nghiên cứu “dn Economic Analysis of Technical Efficiency of MSMEs in India” của Sadhana Singh và các cộng sự (2022) tìm hiểu về hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở An Độ.
Nghiên cứu đo lường hiệu quả kỹ thuật bang phương pháp phân tích bao đữ liệu (DEA). Trong nghiên cứu này, yếu tố khu vực địa lý là một tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật. Điều này được giải thích là mức độ chênh lệch giữa khu vực nông thôn và thành thị của Ấn Độ vẫn còn rất lớn. Vì vậy các khu vụ thành thị đang phát triển với thị trường việc làm năng động, có thé thu hút được lượng nhân công rất lớn từ khu vực nông thôn với giá rẻ, từ đó tạo ra lợi thê vê mặt sản xuât và nâng cao hiệu quả kỹ thuật.
Khoảng trống nghiên cứu Các công trình nghiên cứu khoa học về hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp chế biến và chế tạo hiện nay đa số tìm hiểu, phân tích và đánh giá một hay vài nhóm doanh nghiệp cụ thé. Đặc biệt, trong thời kỳ Covid - 19, không có nhiều bài nghiên cứu mới về các doanh nghiệp chế biến, chế tạo trong giai đoạn này. Vi vậy, trong bài nghiên cứu nay sẽ phân tích rõ hon và đưa ra những đánh gia khái quát về hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam trong thời kỳ Covid - 19. Bài nghiên cứu sẽ cho thấy thực trạng về hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp này trước và trong thời kỳ Covid - 19 để từ đó đưa ra những đánh giá, nhận xét tổng hợp nhất.
Cuối cùng, dựa vào những kết quả trên, bài nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kỹ thuật và góp phần định hướng xây dựng chiến lược phát triển mới cho các doanh nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam trong thời kỳ Covid — 19. Ngành công nghiệp chế biến chế tạo a.