Luận Văn Thạc Sĩ: Đánh Giá Tác Dụng Điện Châm Kết Hợp Đai Ngải Cứu Việt Trị Đau Cổ Gáy

Tài liệu đánh giá hiệu quả điện châm kết hợp đai ngải cứu việt điều trị đau cổ tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành điện - điện tử

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ y học

2020

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về đau cổ gáy

Đau cổ gáy là một triệu chứng phổ biến, ảnh hưởng đến nhiều người ở mọi lứa tuổi. Tình trạng này thường gia tăng khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Mặc dù đau cổ gáy không phải là một bệnh lý nguy hiểm, nhưng nó có thể gây ra nhiều khó chịu, mệt mỏi và giảm chất lượng cuộc sống. Theo nghiên cứu, tỷ lệ đau cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ ở Việt Nam là khoảng 14%. Đau cổ gáy có thể là dấu hiệu của nhiều bệnh lý nghiêm trọng như thoát vị đĩa đệm và thoái hóa đốt sống cổ. Việc điều trị đau cổ gáy thường bao gồm các phương pháp như thuốc giảm đau, vật lý trị liệu và các liệu pháp y học cổ truyền như điện châmđai ngải cứu Việt.

1.1. Nguyên nhân và triệu chứng

Nguyên nhân gây đau cổ gáy có thể bao gồm tư thế ngồi không đúng, căng thẳng cơ bắp, hoặc chấn thương. Triệu chứng thường gặp là đau nhức, tê bì, và hạn chế vận động ở vùng cổ. Đau cổ gáy cấp tính có thể tự khỏi sau một thời gian ngắn, trong khi đau mãn tính có thể kéo dài và gây ra nhiều biến chứng. Việc nhận diện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng để ngăn ngừa tình trạng trở nên nghiêm trọng hơn.

II. Phương pháp điều trị đau cổ gáy

Có nhiều phương pháp điều trị đau cổ gáy, bao gồm cả y học hiện đại và y học cổ truyền. Điện châm là một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến, kết hợp với đai ngải cứu Việt để tăng cường hiệu quả điều trị. Phương pháp này không chỉ giúp giảm đau mà còn cải thiện lưu thông máu và giảm căng thẳng cơ bắp. Nghiên cứu cho thấy rằng việc kết hợp điện châm với đai ngải cứu Việt có thể mang lại hiệu quả cao hơn so với việc chỉ sử dụng một trong hai phương pháp. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc áp dụng các phương pháp điều trị đa dạng để đạt được kết quả tốt nhất.

2.1. Hiệu quả của điện châm

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng điện châm có tác dụng tích cực trong việc giảm đau và cải thiện chức năng vận động cho bệnh nhân đau cổ gáy. Cơ chế tác dụng của điện châm liên quan đến việc kích thích các điểm huyệt, giúp tăng cường lưu thông máu và giảm viêm. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy bệnh nhân điều trị bằng điện châm có sự cải thiện rõ rệt về mức độ đau và khả năng vận động so với nhóm không điều trị. Điều này khẳng định giá trị thực tiễn của phương pháp này trong điều trị đau cổ gáy.

2.2. Tác dụng của đai ngải cứu Việt

Đai ngải cứu Việt được biết đến với nhiều tác dụng trong việc điều trị các bệnh lý xương khớp, đặc biệt là đau cổ gáy. Ngải cứu có tính ấm, giúp lưu thông khí huyết và giảm đau hiệu quả. Khi kết hợp với điện châm, đai ngải cứu Việt không chỉ tăng cường hiệu quả giảm đau mà còn giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn trong quá trình điều trị. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng đai ngải cứu Việt trong điều trị đau cổ gáy có thể làm giảm đáng kể mức độ đau và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

III. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu về hiệu quả của điện châm kết hợp với đai ngải cứu Việt trong điều trị đau cổ gáy đã chỉ ra rằng phương pháp này mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân. Việc áp dụng đồng thời hai phương pháp này không chỉ giúp giảm đau mà còn cải thiện chức năng vận động và chất lượng cuộc sống. Khuyến nghị cho các bác sĩ và chuyên gia y tế là nên xem xét việc áp dụng các phương pháp điều trị kết hợp để đạt được hiệu quả tối ưu trong điều trị đau cổ gáy. Hơn nữa, cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn về cơ chế tác dụng và hiệu quả lâu dài của các phương pháp này.

3.1. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần thực hiện thêm các nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn hơn để đánh giá hiệu quả của điện châmđai ngải cứu Việt trong điều trị đau cổ gáy. Các nghiên cứu này nên tập trung vào việc so sánh hiệu quả của các phương pháp điều trị khác nhau, từ đó đưa ra các hướng dẫn điều trị cụ thể cho bệnh nhân. Việc nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tác dụng của các phương pháp này cũng sẽ giúp nâng cao hiểu biết và ứng dụng trong thực tiễn.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá tác dụng của điện châm kết hợp đeo đai ngải cứu việt điều trị đau vùng cổ gáy

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đau cổ gáy là một triệu chứng thƣờng gặp, xảy ra mọi lứa tuổi, mọi giới. Bệnh tăng lên khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Đau cổ gáy thông thƣờng không nguy hiểm, song có thể gây ra nhiều lo lắng, khó chịu, mệt mỏi cho ngƣời bệnh, làm giảm sút sức lao động và chất lƣợng cuộc sống. Đau cổ gáy không chỉ khiến ngƣời bệnh cảm thấy mệt mỏi, khó chịu, mà đau cổ gáy còn là báo hiệu của nhiều bệnh xƣơng khớp nguy hiểm nhƣ: thoái hóa đốt sống cổ, thoát vị đĩa đệm cổ.

Bệnh thƣờng gặp ở lứa tuổi lao động và tăng dần theo lứa tuổi. Bệnh tuy không gây tử vong nhƣng có tính chất dai dẳng gây cho BN các cảm giác khó chịu nhƣ đau nhức, tê, mỏi, làm giảm năng suất lao động, giảm chất lƣợng cuộc sống [0]. Ở Việt Nam theo nghiên cứu của Trần Ngọc Ân thì tỉ lệ đau cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ là 14%. Nguyễn Quang Khiên (2000) tỉ lệ đau cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ là 17,7% và lứa tuổi nhỏ nhất mắc bệnh là 28 tuổi [2].

Tại Mỹ đau cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ chiếm tới 151000 ngƣời, với chi phí hàng năm lên tới 40 tỷ USD[45]. Y học cổ truyền mô tả đau cổ gáy thuộc phạm vi chứng tý. Nguyên nhân gây bệnh do phần dinh vệ bị hƣ tổn, tấu lý không chặt, phong hàn thấp tà thừa hƣ xâm nhập vào cơ thể, kinh mạch bị tắc trở không lƣu thông đƣợc mà gây đau. Về điều trị cả Y học hiện đại( YHHĐ) và y học cổ truyền ( YHCT) có thể dùng thuốc chống viêm giảm đau toàn thân, kéo dãn cột sống cổ, điều trị 2 bằng nhiệt ( hồng ngoại, nƣớc nóng, paraphin ), y học cổ truyền kết hợp với châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, cứu ngải.

Đã có một số tác giả nghiên cứu điều trị đau cổ gáy bằng châm cứu, vận động trị liệu, cứu ngải, bằng thuốc YHCT. Nhƣng chƣa có nghiên cứu nào đánh giá điều trị đau cổ gáy bằng phƣơng pháp điện châm kết hợp đai ngải cứuViệt, do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng của điện châm kết hợp đeo Đai ngải cứuViệt điều trị đau vùng cổ gáy” này nhằm mục tiêu sau: 1. Đánh giá kết quả của điện châm kết hợp đeo đai ngải cứu Việt điều trị đau vùng cổ gáy do thoái hóa đốt sống cổ trên một số chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng. Theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp.

3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu cột sống cổ - Cột sống cổ gồm 7 đốt sống giữa CI và CII không có đĩa đệm, 1 đĩa đệm chuyển đoạn là đĩa đệm cổ lƣng CVII – DI [3]. - Cột sống cổ là trụ cột chính để giữ và vận động đầu, cong ra trƣớc, di động nhiều, các mỏm khớp hơi nghiêng nên dễ bị tổn thƣơng ( thƣờng gặp ở đoạn chuyển tiếp CV – CVI) [4]. Giải phẫu cột sống cổ 1.

Đặc điểm chung - Mỗi đốt sống gồm 2 phần: Thân đốt sống ở phía trƣớc, cung đốt sống ở phía sau. Thân đốt sống có đƣờng kính ngang dài hơn đƣờng kính trƣớc sau. Mỗi cung đốt sống gồm 2 cuống cung nối 2 mảnh cung đốt sống vào thân đốt sống, có một mỏm gai, hai mỏm ngang, bốn mỏm khớp (2 mỏm khớp trên và 2 mỏm khớp dƣới) [5]. 4 - Mỏm khớp: diện khớp tƣơng đối phẳng rộng.

- Gai sống: đỉnh của gai sống tách làm 2 củ, gai sống dài dần từ CII đến CVII. - Lỗ đốt sống: các lỗ to dần từ đốt CI đến CV, sau đó nhỏ dần ở đốt CVI và CVII. + Đốt sống cổ I ( đốt đội): - Mặt trên tiếp khớp với 2 lồi cầu của xƣơng chẩm, không có gai sống và thân đốt sống. Có 2 cung giống nhƣ đai vòng: cung trƣớc và cung sau mỏng.

- Mặt trƣớc cung trƣớc có củ trƣớc là nơi bám của các cơ, mặt sau cung trƣớc có hõm răng tạo nên diện khớp nhỏ tiếp nối với mỏm nha của đốt trục. - Lỗ đốt sống ở đây rất rộng có dây chằng ngang chia lỗ thành 2 phần không đêu nhau, phần trƣớc nhỏ có mỏm răng, phần sau rộng có tuỷ sống. + Đốt sống cổ II (đốt trục) [5]: Có thân đốt nhƣ các đốt CIII đến CVII nhƣng còn thêm mỏm nha. Mỏm nha dính liền vào thân đốt làm trục tựa để đốt CI quay quanh mỏm ngang nên biên độ xoay cổ rất rộng vì thế đốt CII còn gọi là đốt trục.

+ Đốt sống cổ dƣới (CIII – CVII ):Có chung những đặc tính: thân đốt có bề mặt hình bầu dục, chiều cao nhỏ hơn chiều rộng. - Mỏm ngang ở 2 bên và có lỗ ở giữa, lỗ ở mỏm ngang cho động mạch đốt sống đi qua. - Lỗ sống lớn rộng và có hình tam giác, tạo bởi 2 mảnh cung đốt sống rộng và dẹt. - Mỏm gai CVII dài và lớn nhất, giống nhƣ mỏm gai của đốt sống ngực.

Lỗ của mỏm ngang CVII nhỏ hơn các dốt sống cổ khác và không cho động mạch đốt sống đi qua. 5 - Mặt trên thân đốt sống có thêm hai mỏm móc (hay mỏm bán nguyệt) ôm lấy góc dƣới của thân đốt sống phía trên hình thành khớp mỏm móc đốt sống. + Các khớp này đƣợc phủ bằng sụn và cũng có một bao khớp chứa dịch, có tác dụng giữ cho đĩa đệm không bị lệch sang hai bên khi khớp này bị thoái hoá gai xƣơng của mỏm móc nhô vào lỗ gian đốt sống sẽ chèn ép vào rễ thần kinh ở đó. Đĩa đệm cột sống cổ - Đĩa đệm là bộ phận chính cùng với các dây chằng đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các thân đốt sống và đóng vai trò hấp thu chấn động.

Ở phía trƣớc đĩa đệm dầy hơn phía sau nên cột sống cổ có chiều cong sinh lý ƣỡn ra trƣớc [5]. - Đĩa đệm có hình thấu kính hai mặt lồi, nằm trong khoang gian đốt sống bao gồm nhân nhày, vòng sợi và mâm sụn. Các khớp đốt sống - Khớp đốt sống ở cột sống cổ là một khớp động, mặt khớp phẳng và nghiêng theo chiều trƣớc sau một góc 45 độ cho nên có thể cúi, ngửa cổ dễ dàng [5]. - Khớp đốt sống còn tiếp nối với nhau bởi các cặp khớp nhỏ hơn giữa diện khớp của các cuống.

Các dây chằng - Cùng với đĩa đệm, các dây chằng đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các thân đốt sống và đóng vai trò hấp thu chấn động. Vai trò của các dây chằng đoạn cổ trên có tác dụng hạn chế sự chuyển động để bảo vệ các thành phần trong tủy (tủy cổ và rễ thần kinh). Bao gồm các loại dây chằng sau: dây chằng dọc trƣớc, dây chằng dọc sau, dây chằng vàng, dây chằng liên gai và dây chằng trên gai [5]. 6 + Dây chằng dọc trước: Dây chằng dọc trƣớc phủ mặt trƣớc thân đốt sống, kéo dài từ mặt trƣớc xƣơng cùng đến lồi củ trƣớc đốt sống C I và đến lỗ chẩm lớn.

Nó ngăn cản sự ƣỡn quá mức của cột sống. + Dây chằng dọc sau: Dây chằng dọc sau phủ mặt sau của thân đốt sống, chạy trong ống sống từ nền xƣơng chẩm đến mặt sau xƣơng cùng. Nó ngăn cản sự gấp quá mức của cột sống. Dây chằng dọc sau đƣợc phân bố nhiều tận cùng thụ thể đau nên nó rất nhạy cảm với đau.

Các sợi của dây chằng dọc sau ở vùng cổ không tập trung dày đặc ở vùng giữa mà trải đều trong phạm vi mặt trƣớc của ống sống, cùng với sự có mặt của mỏm móc nên ít gặp thoát vị đĩa đệm cột sống cổ ở lỗ gian đốt sống mà hay gặp thoát vị đĩa đệm trung tâm và cạnh trung tâm. + Dây chằng vàng: Dây chằng vàng là tổ chức sợi đàn hồi màu vàng phủ phần sau của ống sống, bám từ lá đốt sống phía dƣới đến lá đốt sống phía trên của các cung đốt sống liền kề và tạo thành thành sau của ống sống. Dây chằng vàng ở cột sống cổ mỏng hơn ở đoạn cột sống lƣng, dày nhất là ở đoạn cột sống thắt lƣng. Dây chằng vàng ngăn cản sự tách rời của các lá đốt sống, do đó ngăn cản sự gấp quá mức và đột ngột của đốt sống.

Dây chằng vàng có khả năng đàn hồi mạnh và rất bền vững để duy trì đƣờng cong sinh lý của cột sống và giúp cho cột sống duỗi thẳng sau khi cúi. Dây chằng vàng đối lập với các dây chằng thân đốt, hạn chế sự nén ép quá mức lên các đĩa đệm, nên cũng ngăn cản thoát vị đĩa đệm ra sau. Phì đại dây chằng vàng là nguyên nhân chính gây hẹp ống sống cổ từ phía sau. + Dây chằng liên gai và đau dây chằng trên gai: Dây chằng liên gai nối các mỏm gai với nhau.

Dây chằng trên gai là dây mỏng chạy qua đỉnh các mỏm gai, góp phần gia cố phần sau của đoạn vận động cột sống khi đứng thẳng và khi gấp cột sống tối đa. Các cơ ở cổ Đƣợc chia thành 2 vùng chính các cơ ở cổ vùng trƣớc bên và các cơ ở cổ vùng sau [5]. - Động tác gấp đầu chủ yếu gồm các cơ thẳng ngắn và cơ đầu dài. - Động tác duỗi đầu là 4 cơ ngắn: cơ thẳng đầu sau, nhỏ và lớn, các cơ chéo đầu trên và dƣới.

- Các cơ duỗi, xoay, nghiêng bên cột sống cổ là cơ thang, cơ nâng vai, và cơ dài khác của cột sống ngực trên. Ống sống cổ Gồm 2 phần ống xƣơng và ống dây chằng [5]: - Ống xƣơng: đƣợc tạo thành từ các thân đốt sống, các cuống và cung sau đốt sống. - Ống dây chằng: gồm thành trƣớc là mặt sau thân đốt sống, thành bên là những mỏm khớp gian đốt sống, thành sau là dây chằng vàng. - Đƣờng kính trƣớc sau của ống sống cổ CIV – CVII lớn hơn hoặc bằng 14mm dƣới 11mm đƣợc coi là hẹp ống sống cổ.

- Đƣờng kính trƣớc sau của ống sống CI cổ CII rất rộng. Tủy sống cổ - Nằm trong ống sống dƣợc bao bọc bởi màng cứng, màng nhện và màng nuôi [5]. Đƣờng kính trung bình của tủy sống cổ là 1cm ở đoạn CV, DI đoạn này phình to các rễ từ CV đến DI tạo nên đám rối thần kinh cánh tay chi phối cho toàn bộ chi trên. - Tủy sống cổ có 8 khoang tủy, tách ra 8 đôi rễ thần kinh tủy sống cổ rễ trƣớc chi phối vận động, rễ sau chi phối cảm giác.

1 rễ thần kinh cổ đƣợc hợp bởi rễ trƣớc và rễ sau nằm trong lỗ gian đốt sống, chạy ngang sang bên nên mức của tủy sống và rễ ngang nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh giá hiệu quả điện châm kết hợp đai ngải cứu Việt điều trị đau cổ gáy là một nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp điều trị đau cổ gáy bằng kỹ thuật điện châm kết hợp với đai ngải cứu. Tài liệu này cung cấp những phân tích chi tiết về hiệu quả lâm sàng, cơ chế tác động, và lợi ích của phương pháp này trong việc giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các chuyên gia y tế và người quan tâm đến các phương pháp điều trị không dùng thuốc.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị y học cổ truyền và hiện đại, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu lâm sàng đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis, hoặc tìm hiểu về các phương pháp chẩn đoán và điều trị khác qua Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại WHO 2013. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị phối hợp anthracycline và taxane cũng là một tài liệu đáng chú ý để hiểu rõ hơn về các phương pháp điều trị tiên tiến trong y học.