ĐẶT VẤN ĐỀ Đau cổ gáy là một triệu chứng thƣờng gặp, xảy ra mọi lứa tuổi, mọi giới. Bệnh tăng lên khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Đau cổ gáy thông thƣờng không nguy hiểm, song có thể gây ra nhiều lo lắng, khó chịu, mệt mỏi cho ngƣời bệnh, làm giảm sút sức lao động và chất lƣợng cuộc sống. Đau cổ gáy không chỉ khiến ngƣời bệnh cảm thấy mệt mỏi, khó chịu, mà đau cổ gáy còn là báo hiệu của nhiều bệnh xƣơng khớp nguy hiểm nhƣ: thoái hóa đốt sống cổ, thoát vị đĩa đệm cổ.
Bệnh thƣờng gặp ở lứa tuổi lao động và tăng dần theo lứa tuổi. Bệnh tuy không gây tử vong nhƣng có tính chất dai dẳng gây cho BN các cảm giác khó chịu nhƣ đau nhức, tê, mỏi, làm giảm năng suất lao động, giảm chất lƣợng cuộc sống [0]. Ở Việt Nam theo nghiên cứu của Trần Ngọc Ân thì tỉ lệ đau cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ là 14%. Nguyễn Quang Khiên (2000) tỉ lệ đau cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ là 17,7% và lứa tuổi nhỏ nhất mắc bệnh là 28 tuổi [2].
Tại Mỹ đau cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ chiếm tới 151000 ngƣời, với chi phí hàng năm lên tới 40 tỷ USD[45]. Y học cổ truyền mô tả đau cổ gáy thuộc phạm vi chứng tý. Nguyên nhân gây bệnh do phần dinh vệ bị hƣ tổn, tấu lý không chặt, phong hàn thấp tà thừa hƣ xâm nhập vào cơ thể, kinh mạch bị tắc trở không lƣu thông đƣợc mà gây đau. Về điều trị cả Y học hiện đại( YHHĐ) và y học cổ truyền ( YHCT) có thể dùng thuốc chống viêm giảm đau toàn thân, kéo dãn cột sống cổ, điều trị 2 bằng nhiệt ( hồng ngoại, nƣớc nóng, paraphin ), y học cổ truyền kết hợp với châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, cứu ngải.
Đã có một số tác giả nghiên cứu điều trị đau cổ gáy bằng châm cứu, vận động trị liệu, cứu ngải, bằng thuốc YHCT. Nhƣng chƣa có nghiên cứu nào đánh giá điều trị đau cổ gáy bằng phƣơng pháp điện châm kết hợp đai ngải cứuViệt, do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng của điện châm kết hợp đeo Đai ngải cứuViệt điều trị đau vùng cổ gáy” này nhằm mục tiêu sau: 1. Đánh giá kết quả của điện châm kết hợp đeo đai ngải cứu Việt điều trị đau vùng cổ gáy do thoái hóa đốt sống cổ trên một số chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng. Theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu cột sống cổ - Cột sống cổ gồm 7 đốt sống giữa CI và CII không có đĩa đệm, 1 đĩa đệm chuyển đoạn là đĩa đệm cổ lƣng CVII – DI [3]. - Cột sống cổ là trụ cột chính để giữ và vận động đầu, cong ra trƣớc, di động nhiều, các mỏm khớp hơi nghiêng nên dễ bị tổn thƣơng ( thƣờng gặp ở đoạn chuyển tiếp CV – CVI) [4]. Giải phẫu cột sống cổ 1.
Đặc điểm chung - Mỗi đốt sống gồm 2 phần: Thân đốt sống ở phía trƣớc, cung đốt sống ở phía sau. Thân đốt sống có đƣờng kính ngang dài hơn đƣờng kính trƣớc sau. Mỗi cung đốt sống gồm 2 cuống cung nối 2 mảnh cung đốt sống vào thân đốt sống, có một mỏm gai, hai mỏm ngang, bốn mỏm khớp (2 mỏm khớp trên và 2 mỏm khớp dƣới) [5]. 4 - Mỏm khớp: diện khớp tƣơng đối phẳng rộng.
- Gai sống: đỉnh của gai sống tách làm 2 củ, gai sống dài dần từ CII đến CVII. - Lỗ đốt sống: các lỗ to dần từ đốt CI đến CV, sau đó nhỏ dần ở đốt CVI và CVII. + Đốt sống cổ I ( đốt đội): - Mặt trên tiếp khớp với 2 lồi cầu của xƣơng chẩm, không có gai sống và thân đốt sống. Có 2 cung giống nhƣ đai vòng: cung trƣớc và cung sau mỏng.
- Mặt trƣớc cung trƣớc có củ trƣớc là nơi bám của các cơ, mặt sau cung trƣớc có hõm răng tạo nên diện khớp nhỏ tiếp nối với mỏm nha của đốt trục. - Lỗ đốt sống ở đây rất rộng có dây chằng ngang chia lỗ thành 2 phần không đêu nhau, phần trƣớc nhỏ có mỏm răng, phần sau rộng có tuỷ sống. + Đốt sống cổ II (đốt trục) [5]: Có thân đốt nhƣ các đốt CIII đến CVII nhƣng còn thêm mỏm nha. Mỏm nha dính liền vào thân đốt làm trục tựa để đốt CI quay quanh mỏm ngang nên biên độ xoay cổ rất rộng vì thế đốt CII còn gọi là đốt trục.
+ Đốt sống cổ dƣới (CIII – CVII ):Có chung những đặc tính: thân đốt có bề mặt hình bầu dục, chiều cao nhỏ hơn chiều rộng. - Mỏm ngang ở 2 bên và có lỗ ở giữa, lỗ ở mỏm ngang cho động mạch đốt sống đi qua. - Lỗ sống lớn rộng và có hình tam giác, tạo bởi 2 mảnh cung đốt sống rộng và dẹt. - Mỏm gai CVII dài và lớn nhất, giống nhƣ mỏm gai của đốt sống ngực.
Lỗ của mỏm ngang CVII nhỏ hơn các dốt sống cổ khác và không cho động mạch đốt sống đi qua. 5 - Mặt trên thân đốt sống có thêm hai mỏm móc (hay mỏm bán nguyệt) ôm lấy góc dƣới của thân đốt sống phía trên hình thành khớp mỏm móc đốt sống. + Các khớp này đƣợc phủ bằng sụn và cũng có một bao khớp chứa dịch, có tác dụng giữ cho đĩa đệm không bị lệch sang hai bên khi khớp này bị thoái hoá gai xƣơng của mỏm móc nhô vào lỗ gian đốt sống sẽ chèn ép vào rễ thần kinh ở đó. Đĩa đệm cột sống cổ - Đĩa đệm là bộ phận chính cùng với các dây chằng đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các thân đốt sống và đóng vai trò hấp thu chấn động.
Ở phía trƣớc đĩa đệm dầy hơn phía sau nên cột sống cổ có chiều cong sinh lý ƣỡn ra trƣớc [5]. - Đĩa đệm có hình thấu kính hai mặt lồi, nằm trong khoang gian đốt sống bao gồm nhân nhày, vòng sợi và mâm sụn. Các khớp đốt sống - Khớp đốt sống ở cột sống cổ là một khớp động, mặt khớp phẳng và nghiêng theo chiều trƣớc sau một góc 45 độ cho nên có thể cúi, ngửa cổ dễ dàng [5]. - Khớp đốt sống còn tiếp nối với nhau bởi các cặp khớp nhỏ hơn giữa diện khớp của các cuống.
Các dây chằng - Cùng với đĩa đệm, các dây chằng đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các thân đốt sống và đóng vai trò hấp thu chấn động. Vai trò của các dây chằng đoạn cổ trên có tác dụng hạn chế sự chuyển động để bảo vệ các thành phần trong tủy (tủy cổ và rễ thần kinh). Bao gồm các loại dây chằng sau: dây chằng dọc trƣớc, dây chằng dọc sau, dây chằng vàng, dây chằng liên gai và dây chằng trên gai [5]. 6 + Dây chằng dọc trước: Dây chằng dọc trƣớc phủ mặt trƣớc thân đốt sống, kéo dài từ mặt trƣớc xƣơng cùng đến lồi củ trƣớc đốt sống C I và đến lỗ chẩm lớn.
Nó ngăn cản sự ƣỡn quá mức của cột sống. + Dây chằng dọc sau: Dây chằng dọc sau phủ mặt sau của thân đốt sống, chạy trong ống sống từ nền xƣơng chẩm đến mặt sau xƣơng cùng. Nó ngăn cản sự gấp quá mức của cột sống. Dây chằng dọc sau đƣợc phân bố nhiều tận cùng thụ thể đau nên nó rất nhạy cảm với đau.
Các sợi của dây chằng dọc sau ở vùng cổ không tập trung dày đặc ở vùng giữa mà trải đều trong phạm vi mặt trƣớc của ống sống, cùng với sự có mặt của mỏm móc nên ít gặp thoát vị đĩa đệm cột sống cổ ở lỗ gian đốt sống mà hay gặp thoát vị đĩa đệm trung tâm và cạnh trung tâm. + Dây chằng vàng: Dây chằng vàng là tổ chức sợi đàn hồi màu vàng phủ phần sau của ống sống, bám từ lá đốt sống phía dƣới đến lá đốt sống phía trên của các cung đốt sống liền kề và tạo thành thành sau của ống sống. Dây chằng vàng ở cột sống cổ mỏng hơn ở đoạn cột sống lƣng, dày nhất là ở đoạn cột sống thắt lƣng. Dây chằng vàng ngăn cản sự tách rời của các lá đốt sống, do đó ngăn cản sự gấp quá mức và đột ngột của đốt sống.
Dây chằng vàng có khả năng đàn hồi mạnh và rất bền vững để duy trì đƣờng cong sinh lý của cột sống và giúp cho cột sống duỗi thẳng sau khi cúi. Dây chằng vàng đối lập với các dây chằng thân đốt, hạn chế sự nén ép quá mức lên các đĩa đệm, nên cũng ngăn cản thoát vị đĩa đệm ra sau. Phì đại dây chằng vàng là nguyên nhân chính gây hẹp ống sống cổ từ phía sau. + Dây chằng liên gai và đau dây chằng trên gai: Dây chằng liên gai nối các mỏm gai với nhau.
Dây chằng trên gai là dây mỏng chạy qua đỉnh các mỏm gai, góp phần gia cố phần sau của đoạn vận động cột sống khi đứng thẳng và khi gấp cột sống tối đa. Các cơ ở cổ Đƣợc chia thành 2 vùng chính các cơ ở cổ vùng trƣớc bên và các cơ ở cổ vùng sau [5]. - Động tác gấp đầu chủ yếu gồm các cơ thẳng ngắn và cơ đầu dài. - Động tác duỗi đầu là 4 cơ ngắn: cơ thẳng đầu sau, nhỏ và lớn, các cơ chéo đầu trên và dƣới.
- Các cơ duỗi, xoay, nghiêng bên cột sống cổ là cơ thang, cơ nâng vai, và cơ dài khác của cột sống ngực trên. Ống sống cổ Gồm 2 phần ống xƣơng và ống dây chằng [5]: - Ống xƣơng: đƣợc tạo thành từ các thân đốt sống, các cuống và cung sau đốt sống. - Ống dây chằng: gồm thành trƣớc là mặt sau thân đốt sống, thành bên là những mỏm khớp gian đốt sống, thành sau là dây chằng vàng. - Đƣờng kính trƣớc sau của ống sống cổ CIV – CVII lớn hơn hoặc bằng 14mm dƣới 11mm đƣợc coi là hẹp ống sống cổ.
- Đƣờng kính trƣớc sau của ống sống CI cổ CII rất rộng. Tủy sống cổ - Nằm trong ống sống dƣợc bao bọc bởi màng cứng, màng nhện và màng nuôi [5]. Đƣờng kính trung bình của tủy sống cổ là 1cm ở đoạn CV, DI đoạn này phình to các rễ từ CV đến DI tạo nên đám rối thần kinh cánh tay chi phối cho toàn bộ chi trên. - Tủy sống cổ có 8 khoang tủy, tách ra 8 đôi rễ thần kinh tủy sống cổ rễ trƣớc chi phối vận động, rễ sau chi phối cảm giác.
1 rễ thần kinh cổ đƣợc hợp bởi rễ trƣớc và rễ sau nằm trong lỗ gian đốt sống, chạy ngang sang bên nên mức của tủy sống và rễ ngang nhau.