Chương 1, Điều 1 xác định : “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”. [8] Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Tùy theo nội dung nghiên cứu môi trường sống mà môi trường được phân ra 3 loại chính: môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội, môi trường nhân tạo: - Môi trường thiên nhiên: bao gồm các nhân tố thiên nhiên : vật lư, hóa học sinh học, tồn tại khách quan ngoài ư muốn của con ngƣời, hoặc chịu sự chi phối của con người. - Môi trường xã hội: là các mối quan hệ của con người thông qua giao tiếp trao đổi mua bán… tạo nên mối quan hệ qua thời gian và tạo nên phát triển của các cá nhân và cộng đồng của con người.
- Môi trường nhân tạo: bao gồm tất cả những nhân tố vật lư, sinh học, xã hội con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người. Chức năng của môi trường: 1. Môi trường là không gian sống cho con người và thế giới sinh vật 2. Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người.
Môi trường là nơi chứa đựng các chất phê thải do con người tạo ra trong quá trình sống. Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người 5. Bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài Tiêu chuẩn môi trường: h Theo luật bảo vệ môi trường Việt Nam nãm 2014 : “ Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định dung làm căn cứ để quản lư môi trường.[8] Khái niệm ô nhiễm môi trường Theo luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”.[8] Ô nhiễm môi trường nước Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nha, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật.[9] Như vậy, sự gây ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật. Khi sự thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh cho người.
“Sự ô nhiễm nước là một biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi – giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại”. Việc thải các chất thải hoặc nước thải vào môi trường nước sẽ gây ra ô nhiễm nước về vật lí, hóa học, hữu cơ, nhiệt hoặc phóng xạ. Việc thải đó phải không được gây nguy hiểm đối với sức khỏe cộng đồng và phải tính đến khả năng đồng hóa các chất thải của nước (khả năng pha loãng, tự làm sạch. Những hoạt động kinh tế - xã hội của cộng đồng, những biện pháp xử lí nước đóng vai trò rất quan trọng trong vấn đề này.
Đánh giá chất lượng nước Các thông số lư học: + Nhiệt độ: Nhiệt độ tác động tới các quá trình sinh hóa diễn ra trong ngồn nước tự nhiên. Sự thay đổi về nhiệt kéo theo các thay đổi về chất lượng nước, tốc độ, dạng phân hủy các hợp chất hữu cơ, nồng độ oxi hòa tan. + pH: Là chỉ số thể hiện độ axit hay bazơ của nước, là yếu tố môi trường ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và sự giới hạn phát triển của vi sinh vật trong nước. h Các thông số hóa học: + BOD: Là lượng oxi cần thiết để vi sinh vật phân hủy các chất hữu cơ trong điều kiện chuẩn về nhiệt độ và thời gian + COD: Là lượng oxi cần thiết để oxi hóa các hợp chất hóa học trong nước.
+ NO3: Là sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy các chất có chưa Nitơ có trong nước thải. Các yếu tố kim loại nặng: Các kim loại nặng ở hàm lượng nhỏ thì chúng là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của các loài động, thực vật nhưng khi ở hàm lượng lớn chúng là nguyên nhân gây độc hại cho sinh vật và con người thông qua chuổi mắt xích thức ăn. Các thông số sinh học: + Coliform: Là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường, xác định mức độ ô nhiễm bẩn về mặt sinh học của nguồn nước. Khái niệm nước thải và nguồn nước thải - Khái niệm nước thải: Nước thải: Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5980 - 1995 và ISO 6107/1 - 1980: Nước thải là nước được thải ra sau khi đã qua sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó [9].
- Khái niệm nguồn nước thải: Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng. Đó cũng là cơ sở cho việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lư: + Nước thải sinh hoạt: Nước thải sinh hoạt là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, công sở, trường học hay các cơ sở khác.Thông thường nước thải sinh hoạt được chia ra làm hai loại chính: Nước đen và nước xám. + Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): Là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu. + Nước thải tự nhiên: Nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng.
+ Nước thải đô thị: Nước thải đô thị là thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố. + Nước chảy tràn: Nước chảy tràn trên mặt đất do nước mưa, rửa đường xá. + Hoạt động tàu thuyền: Dầu mỏ và các chất thải từ tàu thuyền h + Các hoạt động nông nghiệp: Nước thải từ các chuồng trại chăn nuôi, các loại thuốc trừ sâu, các loại thuốc diệt cỏ, các loại thuốc diệt nấm. Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng.
Đó cũng là cơ sở cho việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lư 2. Tính chất vật lư của nước thải Tính chất vật lư của nước thải được xác định dựa trên các chỉ tiêu màu sắc, mùi, nhiệt độ và lưu lượng. Màu: Màu thực của nước thải là màu tạo ra do các chất hòa tan hoặc ở dạng hạt keo. Màu bên ngoài còn gọi là độ mà biểu kiến của nước, là màu do các chất lơ lửng trong nước tại nên.
Trong thực tế, người ta xác định màu thực của nước, nghĩa là sau khi đã bỏ lọc bỏ các chất không tan. Màu của nước thải mới có màu nâu hơi sáng, tuy nhiên thường là mãu xám có vẩn đục, màu sắc của nước thải sẽ thay đổi đáng kể nếu như bị nhiễm khuẩn, khi đó màu sẽ đen tối. Màu được xác định bằng phương pháp so màu với các dung dịch chuẩn Pt - Co. Mùi: Trong nước thải, mùi xuất hiện là do các khí sinh ra trong quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ hay một số chất được đưa thêm vào.
Việc xác định mùi theo tiêu chuẩn tương đối phức tạp: - Lấy mẫu nước cho vào bình đến phân nữa để phân tích - Đậy nắp, lắc 10 - 20 giây. - Mở nắp và ngửi mùi, ghi chép độ mùi theo các mức: Không mùi, mùi nhẹ, mùi trung bình, mùi nặng, mùi rất nặng. - Để khử mùi đậy nắp lại và đun cách thủy đến 60 oC, lắc mở nắp, ngửi lại. Nhiệt độ: nhiệt độ của nước thải thường cao hơn so với nguồn nước sạch ban đầu, do có sự gia nhiệt vào nước tư các đồ dùng trong gia đình và các máy móc sản xuất.
Lưu lượng: Là thể tích thực của nước thải, có đơn vị m3/ngày đêm. Lưu lượng nước thải phụ thuộc vào: Loại hình, công nghệ sản xuất, loại và thành phần nguyên vật liệu, công suất nhà máy…. Công nghệ sản xuất ảnh hưởng lớn đến lưu lượng nước tiêu thụ, lượng nước thải tạo thành, chế độ xả thải và thành phần tính chất nước thải. Tính chất hóa học của nước thải h Tính chất hóa học của nước thải được thể hiện qua các một số thông số đặc trưng như độ kiềm, nhu cầu oxy sinh hóa, nhu cầu oxy hóa học, các chất khí hòa tan, các hợp chất N….
Đặc điểm sinh vật, vi sinh vật và độc tính sinh thái * Đặc điểm sinh vật, vi sinh vật: Tế bào vi sinh vật hình thành từ các chất hữu cơ, nên tập hợp vi sinh có thể coi là một phần của tổng hợp các chất hữu cơ trong nước thải. Phần này sống hoạt động tăng cường để phân hủy phần hữu cơ còn lại của nước thải. Vi sinh trong nước thải thường được phân biệt theo hình dạng. Vi sinh xử lư nước thải chia làm 3 nhóm: Vi khuẩn, nấm, động vật nguyên sinh.
Vi khuẩn đóng vai trò quan trọng trong việc phân hủy chất hữu cơ, nó là cơ thể sống đơn bào, có khả năng phát triển và tăng trưởng trong các bông cặn lơ lửng hoặc dính bám vào bề mặt vật cứng. Vi khuẩn có khả năng sản sinh rất nhanh, khi tiếp xúc với chất dinh dưỡng có trong nước thải, chúng hấp thụ nhanh thức ăn qua màng tế bào. Đa số vi khuẩn đóng vai trò quan trọng trong việc phân hủy chất hữu cơ, biến chất hữu cơ thành chất ổn định tạo thành bông cặn dễ lắng, nhưng thường tơ kết với nhau thành lưới nhẹ nổi lên bề mặt làm ngăn cản quá trình lắng. * Độc tính sinh thái: Các chất và hữu cơ có độc tính cao thường là các chất bền vững, khó bị vi sinh phân hủy.
Một số có tác dụng tính lũy và tồn lưu lâu dài trong môi trường vi sinh phân hủy.