MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi lợn ở Việt Nam đang chuyển dịch nhanh từ hệ thống chăn nuôi nhỏ lẻ nông hộ sang chăn nuôi trang trại tập trung đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng của người tiêu dùng. Tuy nhiên, việc chăn nuôi lợn trang trại tập trung ở Việt Nam đã và đang gây nên ô nhiễm môi trường không khí và nước nghiêm trọng do đào thải N, P, phát thải khí amoniac, khí gây mùi và khí gây hiệu ứng nhà kính (GHG) từ chất thải gây nên thách thức sự phát triển bền vững của phương thức chăn nuôi lợn trang trại tập trung. Một trong những tỉnh có điển hình về chăn nuôi theo quy mô trang trại của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đó là tỉnh Thái Nguyên. Theo thống kê của tỉnh Thái Nguyên, hiện trên địa bàn tỉnh có hơn 670 trang trại, gia trại chăn nuôi; trong đó, có 274 trang trại, gia trại chăn nuôi lợn, hơn 350 trang trại gia trại chăn nuôi gà, còn lại là các trang trại, gia trại chăn nuôi trâu, ngựa, dê, chồn, nhím.
Khoảng 90% các trang trại, gia trại chăn nuôi có quy mô chăn nuôi dưới 1000 con/năm; số trang trại chăn nuôi quy mô lớn chủ yếu tập trung ở các huyện: Phú Lương, Phú Bình và Phổ Yên. Qua kiểm tra thực tế của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, phần lớn các trang trại, gia trại nằm xen kẽ trong các khu dân cư, có quỹ đất nhỏ hẹp không đủ diện tích xây dựng các công trình bảo vệ môi trường đảm bảo xử lý chất thải, nước thải đạt tiêu chuẩn chuẩn cho phép, không đảm bảo khoảng cách vệ sinh đến khu dân cư gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người dân xung quanh. Trong số các trang trại chăn nuôi đang hoạt động, chỉ có 10% số trang trại có báo cáo đánh giá tác động môi n 2 trường và cam kết bảo vệ môi trường; 6 trang trại thực hiện kê khai nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải song số phí thu được còn rất thấp. Theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, trong hoạt động chăn nuôi, chất thải trong chăn nuôi lợn là nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất.
Chất thải của các trang trại, gia trại nuôi lợn chủ yếu được xử lý bằng hệ thống biogas song biện pháp này chỉ giải quyết được vấn đề thu hồi khí sinh học tận thu làm nhiên liệu còn mức độ giảm thiểu ô nhiễm không đáng kể, không giải quyết được tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước và mùi hôi thối. Hầu hết các hệ thống biogas hiện nay trên địa bàn đều được các trang trại xây dựng nhỏ hơn mức cần thiết nên hiệu quả giảm thiểu ô nhiễm lại càng hạn chế. Một số trang trại quy mô lớn gây ô nhiễm nghiêm trọng, gây bức xúc kéo dài ở địa phương như: trang trại chăn nuôi của bà Nguyễn Thị Mai và ông Nguyễn Anh Tuấn ở xã Tân Cương (Thành phố Thái Nguyên); trang trại chăn nuôi của HTX Thắng Lợi (thị xã Sông Công); trại giống lợn Tân Thái (huyện Đồng Hỷ). Trước thực tế này, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh đã xây dựng đề án bảo vệ và cải thiện môi trường nông nghiệp nông thôn đến năm 2020, đồng thời tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại 11 trang trại chăn nuôi lợn tập trung, xử lý vi phạm 4 trang trại với số tiền hơn 100 triệu đồng.
Tuy nhiên việc yêu cầu các trang trại xử lý chất thải, nâng cấp hệ thống xử lý nước thải của các trang trại vẫn còn gặp nhiều khó khăn do chi phí đầu tư, vận hành hệ thống xử lý chất thải, nước thải rất tốn kém, ảnh hưởng đến lợi nhuận của các trang trại chăn nuôi nên hầu hết các trang rại đều "trốn" đầu tư đầy đủ các công trình bảo vệ môi trường cần thiết. Bênh cạnh đó, trong quy hoạch phát triển chăn nuôi chưa có quy hoạch vùng chăn nuôi đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường. Do đó, thời gian tới, ngành Tài nguyên và Môi trường phối hợp với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng cường kiểm tra, xử lý, n 3 đình chỉ sản xuất đối với các trang trại có hành vi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; yêu cầu các trang trại phải có đầy đủ công trình, bện pháp bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu về xử lý ô nhiễm được xác nhận của cơ quan chức năng trước khi đưa vào hoạt động; khẩn trương quy hoạch vùng chăn nuôi cho từng loại vật nuôi, từng bước hạn chế, không cho phép chăn nuôi gia trại, chăn nuôi quy mô nhỏ trong khu dân cư. Xuất phát từ thực tế đó, em tiến hành đề tài “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải, nước thải của trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên.2 Mục đích của đề tài - Đánh giá công tác xử lý chất thải, mức độ ô nhiễm một số yếu tố môi trường trong chăn nuôi lợn đang áp dụng tại các trang trại, từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong các trang trại chăn nuôi lợn trong điều kiện thực tế ở địa phương.3 Yêu cầu của đề tài - Các số liệu điều tra phải chính xác, khách quan và đáng tin cậy.
- Nội dung nghiên cứu phải thực hiện được các mục tiêu đề ra. - Gỉai pháp phải khả thi, đáp ứng các yêu cầu về xử lý ô nhiễm môi trường của khu vực.4 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế. - Nâng cao kiến thức thực tế. - Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường.
- Bổ sung tư liệu cho hoc tập.2 Ý nghĩa thực tiễn Đề tài nhằm vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiểu biết về công tác quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường cho các hộ chăn nuôi. Đồng thời kết quả nghiên cứu còn phục vụ cho việc học tập và công tác nghiên cứu sau này. Góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi và nâng cao chất lượng môi trường sống cho cộng đồng dân cư. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Cơ sở lý luận Chăn nuôi lợn đóng vai trò chủ yếu trong phát triển ngành chăn nuôi của Việt Nam.
Trong 5 năm gần đây, sản lượng thịt lợn chiếm 76% sản lượng thịt hơi các loại. Sản phẩm thịt lợn là sản phẩm quen thuộc và không thể thiếu đối với người Việt Nam ta, nã đã trở thành loại thức ăn phổ biến nhất so với những loại thịt khác trên thị trường như thịt bò,thịt trâu, thịt gà, tôm , cua. v…Chính vì thế ngành chăn nuôi lợn của Việt Nam trong những năm qua đã góp phần chủ đạo vào việc đáp ứng nhu cầu về dinh dưỡng cho người dân, đặc biệt là người dân ở nông thôn Việt Nam. Với những đặc điểm riêng có, chăn nuôi lợn là hoạt động sản xuất có thể tận dụng được lao động và thức ăn thừa góp phần tiết kiệm chi phí và tăng một phần thu nhập cho gia đình, cho nên hoạt động chăn nuôi này chính là loại hình chăn nuôi phổ biến nhất trong số các loại hình chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay.
Đối với các hộ gia đình sản xuất nhỏ, chăn nuôi lợn là hoạt động chính để tiết kiệm thức ăn thừa, lao động nhàn rỗi, tạo nguồn phân bón hữu cơ cho ngành trồng trọt và cải tạo chất đất, tăng sức sản xuất cho đất nông nghiệp. Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, chăn nuôi lợn với quy mô lớn sẽ là biện pháp hiệu quả để tiết kiệm chi phí mua chất đốt và điện thắp sáng nhờ sử dụng khí Biogas từ chăn nuôi lợn. Mặt khác, theo báo cáo của tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO) cho thấy nghành chăn nuôi đã và đang gây ra những vấn đề về môi trường nghiêm trọng như thoái hóa đất, biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, gây thiếu nước, ô nhiễm nguồn nước, mất đa dạng sinh học. Tổng diện tích n 6 cho ngành chăn nuôi chiếm 26% diện tích bề mặt không phủ băng tuyết của trái đất, thêm vào đó là 33% diện tích đất trồng được dành để sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Vì vậy việc mở rộng chăn nuôi dẫn đến mất rừng làm cho đất bị sói mòn vào mùa mưa và khô hạn vào mùa khô. Trong quá trình chăn nuôi lượng khí CO2 thải ra chiếm 9% toàn cầu và lượng khí CH4 ( một loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 23 lần CO2 ) chiếm 37%. Quá trình chăn nuôi còn tạo ra 65% lượng khí Nox (có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 296 lần CO2 ) và tạo ra khoảng 2/3 tổng lượng phát thải khí NH3 nguyên nhân chính gây mưa axit phá hủy các hệ sinh thái. Thế giới đang đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt nghiêm trọng, theo dự đoán đến năm 2025 thì 64% dân số thế giới sẽ phải sống trong điều kiện căng thẳng về nguồn nước.
Trong khi đó sự phát triển ngành chăn nuôi làm tăng nhu cầu sử dụng nước chúng chiếm khoảng 8% tổng lượng nước loài người sử dụng, đồng thời lượng nước thải từ chăn nuôi đã làm ô nhiễm bởi các chất kháng sinh, hoocmon, hóa chất sát trùng,.làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Ngoài ra ngành chăn nuôi còn làm giảm lượng nước bổ sung cho các mạch nước ngầm do mất rừng và đất bị thoái hóa, chai cứng giảm khả năng thẩm thấu. Tất cả các tác động tiêu cực của ngành chăn nuôi đến môi trường dẫn đến kết quả tất yếu là làm suy giảm đa dạng sinh học. Vì vậy hoạt động của các trang trại chăn nuôi phải được quản lý và có biện pháp sử lý chất thải phù hợp.2 Cơ sở pháp lý Công tác quản lý nhà nước về môi trường phải được dựa trên các văn bản pháp luật, pháp quy của cơ quan quản lý nhà nước.
Từ năm 1993 đến nay đã có các văn bản chính về quản lý và bảo vệ môi trường, đó là: n 7 - Luật Bảo vệ môi trường 2005. - Nghị định 117/2009/NĐ-CP, ngày 31 tháng 12 năm 2009 về việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Nghị định 80/2006/NĐ-CP, ngày 09 tháng 08 năm 2006, về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.