ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của chuyên đề Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng. Xã hội ngày càng phát triển thì đất đai ngày càng có vị trí quan trọng, bất kỳ một ngành sản xuất nào thì đất đai luôn là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được. Đối với nước ta, một nước nông nghiệp thì vị trí của đất đai lại càng quan trọng và có ý nghĩa hơn vì vậy Đảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề quản lý đất đai.
Luật Đất đai 1988 là một trong những sắc luật đầu tiên được ban hành trong thời kỳ đổi mới và không ngừng được hoàn thiện Luật Đất đai 1993, 2003 và định hướng sửa đổi hiến pháp, luật đất đai 2013 để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong Luật Đất đai 1993 đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Là địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. Các Mác cũng đã viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể”.
Đất đai có vai trò quan trọng như vậy nhưng lại là tài nguyên không tái tạo, hạn chế về số lượng và giới hạn về diện tích. Vì vậy chúng ta phải quản lý và sử dụng đất đai sao cho hợp lý và có hiệu quả cao nhất. Tuy đã e 2 có nhiều cố gắng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, nhưng những hành vi vi phạm pháp luật đất đai, những vụ tranh chấp, khiếu kiện vẫn xảy ra. Đây đang là vấn đề nhức nhối làm đau đầu nhiều nhà chức trách trong bộ máy quản lý đất đai.
Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đặc biệt là có sự góp mặt của thị trường bất động sản do vậy, việc đổi mới về chính sách về đất đai cùng với đổi mới về công cụ quản lý để phù hợp với tình hình hiện tại là rất cần thiết. Xuất phát từ những vấn đề thực tế hiện nay, với những kiến thức đã học, trong thời gian thực tập tốt nghiệp em mong muốn được tìm hiểu về công tác quản lý đất đai, đặc biệt là công tác cấp GCNQSD đất. Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và dưới sự giúp đỡ của thầ y giáo T .S Đă ̣ng Văn Minh giảng viên khoa Quản lý tài nguyên em tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn phường Trung Thành - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2011 - 2013”. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Đánh giá kết quả công tác cấp GCNQSDĐ giai đoạn 2011 - 2013 tại phường Trung Thành - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã. - Đề xuất giải pháp thích hợp góp phần đẩy nhanh tiến độ công tác cấp GCNQSDĐ, cũng như hỗ trợ việc quản lý đất đai trên địa bàn phường. Yêu cầu - Bám sát và thực hiện theo luật đất đai 2003 hiện hành cùng với các văn bản hướng dẫn kèm theo. e 3 - Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực.
- Chấp hành đầy đủ chính sách đất đai của Nhà nước và quy định của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường. Ý nghĩa của chuyên đề - Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Hoàn thiện hơn các kiến thức đã học trong nhà trường cho bản thân, đồng thời học hỏi các kiến thức thực tế và tiếp xúc trực tiếp với công tác cấp giấy trong thực tế. Nắm chắc những quy định của luật đất đai 2003 cũng như các văn bản hướng dẫn kèm theo. - Trong thực tiễn công việc: học hỏi các kiến thức thực tế đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp cho công tác cấp GCNQSD đất nói riêng và công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung được tốt hơn.
e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của công tác cấp GCNQSDĐ 2. Cơ sở lý luận của công tác cấp GCNQSDĐ 2.Khái niệm về đăng ký đất đai và công tác cấp GCNQSDĐ Các tài sản mà nhà nước quản lý thì người chủ tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, để cơ quan nhà nước lập hồ sơ và cấp GCN quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng. Đất đai cũng vậy, nó là tài sản đặc biệt, chỉ có một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nước.
Người sử dụng phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp GCNQSDĐ. a) Khái niệm về đăng ký đất đai Theo khoản 19 điều 4 Luật Đất đai 2003 quy định về khái niệm đăng ký đất đai hay đăng ký quyền sử dụng đất như sau: “Đăng ký quyền sử dụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác nhận vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và lợi ích của người sử dụng”. b) Khái niệm về cấp GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa nhà nước và người sử dụng. Tại khoản 20 điều 4 Luật Đất đai 2003 qui định “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”.
Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai Công tác đăng ký đất đai và cấp GCNQSDĐ được thể hiện trong 13 nội dung của công tác quản lý nhà nước về đất đai, được quy định rõ tại khoản 2 điều 6 Luật Đất đai 2003.Sơ lược về hồ sơ địa chính Khái niệm về hồ sơ địa chính được quy định tại Điều 40 (Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004) như sau: - Hồ sơ địa chính được lập chi tiết đến từng thửa đất theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Mỗi thửa đất phải có số hiệu riêng và không trùng với số hiệu của các thửa đất khác trong phạm vi cả nước. - Nội dung của hồ sơ địa chính phải được thể hiện đầy đủ, chính xác, kịp thời, phải được chỉnh lý thường xuyên đối với các biến động theo quy định của pháp luật trong quá trình sử dụng đất. - Hồ sơ địa chính phải được lập thành một (01) bản gốc và hai (02) bản sao từ bản gốc; bản gốc được lưu tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, một bản sao được lưu tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, một bản sao lưu tại UBND xã, phường, thị trấn.
Bản gốc hồ sơ địa chính phải được chỉnh lý kịp thời khi có biến động về sử dụng đất, bản sao hồ sơ địa chính phải được chỉnh lý phù hợp với bản gốc hồ sơ địa chính. Điều kiện được đăng ký cấp GCNQSDĐ * Có đầy đủ giấy tờ hợp pháp hoặc đang sử dụng đất ổn định được ủy ban nhân dân (UBND) nơi có đất xác nhận. Những giấy tờ hợp pháp bao gồm: - Giấy tờ do chính quyền hợp pháp giao đất trong cải cách ruộng đất mà chủ sử dụng vẫn đang sử dụng ổn định từ đó đến nay. - Giấy tờ giao đất hoặc cho sử dụng đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền duyệt thuộc thời kỳ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời miền nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong quá trình thực hiện các chính sách về đất đai mà người sử dụng đất vẫn đang sử dụng từ đó đến nay.
e 6 - Những giấy tờ chuyển nhượng từ năm 1980 trở về trước của chủ sử dụng đất hợp pháp được chính quyền địa phương khi chuyển nhượng xác nhận. - Những giấy tờ chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế quyền sử dụng đất từ sau ngày 15/10/1993 đã được cấp có thẩm quyền xác nhận. - Các quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo các quy định của pháp Luật Đất đai. - GCN QSDĐ tạm thời do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ địa chính mà không có tranh chấp.
- Giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất mà người đó vẫn sử dụng liên tục từ đó đến nay không có tranh chấp. - Bản án hoặc quyết định của tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. - Giấy tờ giao nhà tình nghĩa. - Giấy tờ chuyển nhượng đất đai, mua bán nhà ở kèm theo chuyển nhượng quyền sử dụng đất của UBND cấp trên xác nhận kết quả thẩm tra của UBND cấp dưới.
- Giấy tờ sản xuất của hợp tác xã nông nghiệp cấp cho hộ gia đình xã viên của hợp tác xã từ trước ngày 28/06/1971 (trước ngày ban hành nghị định 125/CP). - Giấy tờ về thanh toán, hóa giá nhà theo quy định của pháp luật. * Trường hợp khi người sử dụng đất đã có một trong các loại giấy tờ nói trên mà đất đó nằm trong quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nhưng chưa có quyết định thu hồi, để thực hiện quy hoạch đó thì vẫn được cấp GCNQSDĐ nhưng phải chấp hành đúng theo quy định về xây dựng. * Trường hợp khi người sử dụng đất đã có một trong các loại giấy tờ nói trên mà đất đó nằm trong phạm vi bảo vệ hành lang an toàn công trình e 7 nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được cấp GCNQSDĐ nhưng phải chấp hành đúng luật, quy định về bảo vệ hành lang an toàn công trình theo quy định của pháp luật.