MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết củađề tài Tỉnh Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc, cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phíaTây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đôHà Nội (cách 80 km); diện tích tự nhiên 3. Hiện nay tình trạng báo động về ô nhiễm nguồn nước mặt cũng như nước dưới đất ở Thái Nguyên do ảnh hưởng của các ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, luyện kim đen, luyện kim mầu, công nghiệp cơ khí, chế tạo, xây dựng. có xu thế gia tăng nhưng các biện pháp xử lý ô nhiễm không hiệu quả, một số biện pháp bảo vệ môi trường của các dự án, các cơ sở sản xuất đề cập trong báo cáo đánh giá tác động môi trường không có tính khả thi hoặc hiệu suất xử lý kém.
Nước thải, khí, bụi thải của các cơ sở sản xuất công nghiệp, các khu chế xuất không được thu gom trạm xử lý nước thải, khí thải tập trung; hệ thống cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường; chất thải rắn chưa được xử lý theo quy định, thậm chí còn dùng để san lấp mặt bằng. Đây là một trong những tác nhân gây ô nhiễm đất và nguồn nước. Trong 3 - 4 tỷ m3 nước mặt và 1,5- 2 tỷ m3 nước dưới đất của tỉnh Thái Nguyên được cảnh báo là đang bị ô nhiễm nặng, đặc biệt là nguồn nước sông Cầu. Các trạm quan trắc tại Cầu Gia Bảy, đập Thác Huống, Cầu Mây cho thấy hàm lượng nước sông Cầu một số chỉ tiêu đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, như BOD5 vượt từ 1,08- 9,5 lần; COD vượt từ 1,2 - 5,8 lần; NH4 vượt từ 1,34- 20 lần.
Tại một số địa điểm ở sông Công và hồ Núi Cốc đã có dấu hiệu ô nhiễm các chất hữu cơ, vô cơ, kim loại nặng, dầu mỡ và hoá chất h 2 bảo vệ thực vật. Bên cạnh đó, nguồn nước dưới đất đã có biểu hiện ô nhiễm cục bộ, mang đặc trưng từng vùng khác nhau. Nhiều khu vực nước dưới đất có nồng độ pH thấp dưới mức tiêu chuẩn cho phép và có biểu hiện ô nhiễm Fe, Mn. Một số khu vực khai thác khoáng sản tại xã Hà Thượng, Tân Linh (huyện Đại Từ) hàm lượng asen từ 0,068- 0,109 mg/l, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,7- 8,2 lần.
Phường Quang Vinh (thành phố Thái Nguyên) và thị trấn Giang Tiên (huyện Phú Lương), hàm lượng Xyanua vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,9- 12,9 lần.[36] Bên cạnh đó, tình trạng khai thác các nguồn tài nguyên nước với cường độ ngày một gia tăng cộng với việc quy hoạch, quản lý chưa đồng bộ, thống nhất dẫn đến các ảnh hưởng tiêu cực cho tài nguyên nước dưới đất như suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, nhiễm mặn, sụt lún dẫn đến suy giảm trữ lượng, suy thoái chất lượng của tài nguyên nước dưới đất. Thị xã Phổ Yên nằm trong định hướng phát triển tiểu vùng động lực chủ đạo,vùng kinh tế trọng điểm, tập trung phát triển công nghiệp điện tử, công nghệ cao, cơ khí chế tạo, công nghiệp phụ trợ, thương mại dịch vụ, du lịch, đào tạo, sản xuất, chế biến nông sản hàng hóa xuất khẩu của tỉnh Thái Nguyên. [7] Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng, công tác quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, bảo vệ nguồn tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn khu vực thị xã Phổ Yên,tỉnh Thái Nguyênlà một nhiệm vụ cấp thiết và quan trọng. Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng chất lượng nước dưới đất khu vực thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu của đề tài - Đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất khu vực thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. h 3 - Đánh giá chất lượng nước dưới đất khu vực thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất giải pháp quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất khu vực thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Đề tài góp phần trong việc nghiên cứu hiện trạng khai thác, sử dụng nước và chất lượng tài nguyên nước dưới đất tại khu vực thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. - Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học đáng tin cậy để đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên nước dưới đất cho khu vực thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài giúp việc định hướng quản lý chặt chẽ việc kiểm soát, cấp phép thăm dò và khai thác nước dưới đất. Ngăn ngừa việc khai thác tự do, trái phép, khai thác quá ngưỡng giới hạn cho phép gây suy giảm mực nước và chất lượng nước dưới đất.
- Giải pháp quản lý của đề tài giúp việc kiểm soát được tình hình ô nhiễm nguồn nước dưới đất, các điểm khai thác, các vùng khai thác nước dưới đất đều được giám sát, kiểm tra, báo cáo định kỳ hàng năm tình hình khai thác, sử dụng ngầm. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm Môi trường Theo Khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.[19] - Khái niệm thành phần môi trường Theo Khoản 2, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014:Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác.[19] - Khái niệm phát triển bền vững Theo Khoản 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.[19] - Khái niệm ô nhiễm môi trường Theo Khoản 8, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.[19] Khái niệm suy thoái môi trường Theo Khoản 9, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.[19] h 5 - Khái niệm quan trắc môi trường Theo Khoản 20, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường.[19] - Khái niệm tài nguyên nước Theo Khoản 1, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[18] - Khái niệm nguồn nước Theo Khoản 2, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Nguồn nướclà các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác.[18] - Khái niệm nước mặt Theo Khoản 3, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.[18] - Khái niệm nước dưới đất Theo Khoản 4, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Nước dưới đấtlà nướctồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất.[18] - Khái niệm nước sinh hoạt Theo Khoản 11, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Nước sinh hoạt là nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người.[18] - Khái niệm nước sạch Theo Khoản 12, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam.[18] - Khái niệm nguồn nước sinh hoạt Theo Khoản 13, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012:Nguồn nước sinh h 6 hoạt là nguồn nước có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc có thể xử lý thành nước sinh hoạt.[18] - Khái niệm ô nhiễm nguồn nước Theo Khoản 14, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012:Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.[18] - Khái niệm suy thoái nguồn nước Theo Khoản 15, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Suy thoái nguồn nước là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc trong các thời kỳ trước đó.[18] - Khái niệm cạn kiệt nguồn nước Theo Khoản 16, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Cạn kiệt nguồn nướclà sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng của nguồn nước, làm cho nguồn nước không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh.[18] - Khái niệm ngưỡng khai thác nước dưới đất Theo Khoản 19, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012:Ngưỡng khai thác nước dưới đất là giới hạn cho phép khai thác nước dưới đất nhằm bảo đảm không gây xâm nhập mặn, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, sụt, lún đất, tác động xấu đến nguồn nước mặt và môi trường liên quan.
Khái quát về nước dưới đất Nước dưới đất là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát, bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người. Đặc điểm chung của nước dưới đất là khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình. h 7 Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước dưới đất thành nước dưới đất tầng mặt và nước dưới đất tầng sâu. Nước dưới đất tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt.
Do vậy, thành phần và mực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của nước mặt. Loại nước dưới đất tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm.