MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam hiện nay vẫn còn là một nước sản xuất chủ yếu về nông nghiệp với trên 70% dân số cả nước số tập trung ở các vùng nông thôn. Ở nông thôn có trên 50 dân tộc khác nhau sinh sống, phân bố trên địa bàn rộng lớn, có nhiêu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác biệt. Hiện nay, quá trình đô thị hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước.
Ở tầm vĩ mô, một mặt đô thị hóa là một trong những giả pháp quan trọng chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mặt khác đô thị hóa cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực, vẫn còn không ít những bất cập, tồn tại đặt ra cần phải giả quyết. Nhiều tác động đang diễn ra hằng ngày, hang giờ làm thay đổi tận gốc nếp làm ăn, nếp sống, nếp nghĩ của người dân nông thôn, cũng như môi trường sống của họ theo cả chiều tốt và xấu.
Do đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hộ, cho nên các có nét đặc thù riêng và chất lượng môi trường sống của họ theo cả chiều tốt vùng nông thôn việt nam và chiều xấu. Nông thôn xã Vạn Thọ, huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên không nằm ngoài quy luật đó. Môi trường nông thôn xã Vạn Thọ đang dần bị thay đổi. Do tập quán sinh hoạt và nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường, điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo, rác thải sinh hoạt và chất thải chăn nuôi ngày càng nhiều hơn, chất lượng môi trường sẽ ngày càng suy giảm nếu không có biện phát ngăn ngừa và khắc phục.
vì vậy để xuất các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao điều kiện vệ sinh môi trường cho vùng nông thôn xã Vạn Thọ là cần thiết song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của xã. Xuất phát từ vấn đề đó, Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Môi Trường - trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô Th.S Dương Thị Thanh Hà, em n 2 tiến hành đề tài: “Đánh giá chất lượng môi trường nông thôn trên địa bàn xã Vạn Thọ - Huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu - Điều tra, đánh giá môi trường nông thôn trên địa bàn xã Vạn Thọ- Huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá hiểu biết của người dân về môi trường.
- Nâng cao hiểu biết của người dân về vấn đề bảo vệ môi trường. - Đề xuất các giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu - Nắm bắt được những thông tin về điều kiện tự nhiên của xã Vạn Thọ cũng như sức ép của sự phát triển kinh tế và xã hội đối với môi trường. - Cung cấp thông tin về các hiện tượng môi trường của xã, Các hậu quả của ô nhiễm môi trường, tự hoạt động của sản xuất của người dân nông thôn, từ đó giúp cho các nhà quản lý thấy thấy rõ tầm quan trọng và đề ra những giải pháp khắc phục.
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu và phòng chống ô nhiễm môi trường tại địa phương. Yêu cầu của đề tài - Đối tượng được lựa chọn phỏng vấn đại diện các tầng lớp, các lứa tuổi làm việc ở nhiều ngành nghề khác nhau. - Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực. - Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi; bộ câu hỏi phải dễ hiểu đầy đủ các thông tin cần thiết cho việc đánh giá.
- Các kiến nghị đưa ra phải phù hợp với tình hình địa phương và có tính khả thi cao. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiêm thực tế phục vụ cho công tác sau này Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập vào thực tế. - Ý nghĩa trong thực tiễn: n 3 Xác định được hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Vạn Thọ và đề xuất giải pháp khắc phục, phòng chống ô nhiễm. Nâng cao nhận thức, ý thức về bảo vệ môi trường của người dân trong xã.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận - “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, sự phát triển của con người và sinh vật” (luật Bảo vệ Môi Trường, 2005)[2]. - Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật (Luật bảo vệ môi trường, 2005)[2].
- Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường số và phát triển bền vũng kinh tế xã hội quốc gia (Lê Văn Khoa, 2000)[4]. - Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong sạch,phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học (Phạm Ngọc Quế 2003)[8] - Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 chính là “tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý hức và trách nhiệm BVMT cho cộng đồng và đẩy mạnh xã hội hoá công tác BVMT” (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2008)[1]. Cơ sở pháp lý - Luật BVMT Việt Nam - ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Quyết định số 104/2000/QĐ - TTg ngày 25/08/2000 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020.
- Quyết định số 51/2008/QĐ - BNN của bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn về ban hành bộ chỉ số theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. n 5 - Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y Tế số 08/2005/QĐ - BYT ngày 11/03/2005 về việc ban hành tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu. - Nghị định số 149/2004/NĐ - CP ngày 27/07/2004 của chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước. - Thông tư của Bộ Y Tế số 15/2006/TT - BYT ngày 30/11/2006 hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống, nhà tiêu và hộ gia đình.
- Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5942-1995) Giá trị giới hạn cho phép các thông số và nồng độ chất ô nhiễm cơ bản trong nước mặt. - Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5944-1995) Giá trị giới hạn cho phép các thông số và nồng độ chất ô nhiễm cơ bản trong nước ngầm. - Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5502-2003) nước cấp sinh hoạt - yêu cầu chất lượng. - Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5945-2005) Giá trị giới hạn cho phép các thôn số và nồng độ chất ô nhiễm cơ bản trong nước thải.
Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trong nước 2. Tình trạng chung của môi trường Việt Nam Việt Nam đang ra sức xây dựng nông thôn mới. Trong tiến trình này, bảo vệ môi trường là một trong những tiêu chí cần phải đạt được. Tuy nhiên, ở nhiều vùng nông thôn, tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn chưa được giải quyết có hệ thống, nhất là ở các làng nghề và trong sản xuất nông nghiệp.
Cả nước có trên 1.300 làng nghề đã được công nhận và 3.200 làng có nghề, tập trung nhiều nhất ở miền Bắc, chiếm khoảng 60%. Kết quả khảo sát 52 làng nghề điển hình trong cả nước cho thấy 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng, 27% ô nhiễm vừa. Những đánh giá trong thời gian gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm của các làng nghề không giảm mà còn có xu hướng gia tăng. Hàm lượng kim loại nặng trong đất ở một số làng nghề đã xấp xỉ hoặc vượt tiêu chuẩn cho phép.
Hầu hết chất thải phát sinh từ các làng nghề như chế biến lương thực, thực phẩm, tái chế kim loại, giấy, nhựa,… chưa được thu gom và xử lý triệt để, nhiều làng nghề xả thải bừa bãi gây tác n 6 động xấu tới cảnh quan môi trường; gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất; làm gia tăng người mắc bệnh có liên quan đến ô nhiễm; thậm chí làm giảm tuổi thọ trung bình của người dân sống trong và bên cạnh làng nghề. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã tích cực nghiên cứu, xây dựng, chuyển giao và có biện pháp nhân rộng một số mô hình quản lý, xử lý chất thải làng nghề, góp phần cải thiện môi trường tại một số địa phương như công nghệ hầm biogas đối với chất thải ở các làng nghề chăn nuôi, giết mổ gia súc; mô hình quản lý chất thải nguy hại làng nghề… Một số địa phương đã triển khai quy hoạch tập trung các khu công nghiệp, cụm công nghiệp để di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư đối với làng nghề dệt nhuộm, giấy tái chế,… hoặc quy hoạch quản lý theo hình thức phân tán đối với từng hộ gia đình tại các làng nghề truyền thống ít ô nhiễm; công tác xã hội hoá bảo vệ môi trường làng nghề (chủ yếu là thu gom chất thải rắn) đã được hình thành và hoạt động có hiệu quả tại một số địa phương. Thủ tướng Chính phủ cũng vừa ban hành Quy định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 phê duyệt Đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, trong đó xác định các trọng tâm ưu tiên bảo vệ môi trường làng nghề giai đoạn 2013 - 2015 và 2016 - 2020 nhằm từng bước xử lý các làng nghề hiện đang bị ô nhiễm môi trường và ngăn chặn tình trạng phát sinh các làng nghề gây ô nhiễm môi trường mới. (Đình Lâm, 2013)[6] Tuy nhiên, nhìn chung tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề vẫn đang gia tăng và trở thành một vấn đề môi trường cấp bách hiện nay, các làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chậm được xử lý do thiếu nguồn lực cũng như thiếu quy định về trách nhiệm cụ thể.