Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phẫu thuật nội soi bằng Robot 1. Lịch sử phát triển của phẫu thuật nội soi bằng Robot “Robot” là thuật ngữ được giới thiệu lần đầu tiên bởi giả Karel Capek - một nhà viết kịch người Séc trong vở kịch “Rossum, Universal Robots” [51]. Trong vở kịch, các robot đã từng thực hiện những nhiệm vụ cho chủ nhân của chúng, sau đó cố gắng loại bỏ vai trò phụ thuộc của chúng và kiểm soát số phận của chính mình.
Mặc dù các hệ thống robot hoạt động sớm đã chứng minh rõ tiềm năng của các thiết bị cơ học để tăng cường sự can thiệp trong phẫu thuật, nhưng tác động mạnh mẽ đến sự phát triển chính là tăng cường các quy trình nội soi dựa trên khái niệm về thần giao cách cảm, từ đó được bắt nguồn từ sự hợp tác giữa Nghiên cứu Ames Trung tâm tại NASA và các nhà nghiên cứu từ Stanford. Quân đội Hoa Kỳ nhận ra tầm quan trọng tiềm tàng của việc liên kết các bác sĩ phẫu thuật (ở xa chiến trường) với người bệnh thông qua một nền tảng robot cho thấy khả năng làm giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật từ các nhân viên phục vụ trong các cuộc xung đột. Các nguồn tài trợ trực tiếp được cấp cho Computer Motion để phát triển Hệ thống nội soi tự động cho định vị tối ưu (AESOP) nền tảng robot. Hệ thống này về cơ bản cho phép các bác sĩ phẫu thuật điều khiển giọng nói định vị hệ thống camera nội soi.
Những điều chỉnh sau đó dẫn đến hệ thống được chạy lại dưới dạng hệ điều hành ZEUS [51]. Hệ thống phẫu thuật Robot là kết quả của sự nghiên cứu lâu dài nhằm mục đích tạo ra tầm nhìn và hoạt động cánh tay tự nhiên thông qua trung gian hệ thống vi tính. Phẫu thuật dưới sự hỗ trợ của robot phát triển mạnh mẽ từ những thập niên gần đây. Năm 1985, Kwoh và cộng sự đã sử sụng robot PUMA 200 để hỗ trợ sinh thiết não dưới hướng dẫn của CT-Scanner và điều khiển tia laser trong khi can thiệp phẫu thuật tại bệnh viện Memorial (Los Angeles).
Năm 1988, Imperial Collerge London phát triển PROOBOT và được sử dụng trong phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt [30]. Tác giả Trần Ngọc Sinh đã tổng hợp một số cột mốc phẫu thuật có hỗ trợ của robot. Một số cột mốc của PTNS có sự hỗ trợ của robot NĂM PHẪU THUẬT NƠI, TÁC GIẢ VÀ LOẠI ROBOT 1985 Sinh thiết và các can thiệp ở não Memorial Hospital of Los Angeles/Dr.Kwoh – PUMA 200 1995- Nhiều loại PTNS ổ bụng Da Vinci, ZEUS 1997 1997 Phẫu thuật nối tai vòi trứng Cleveland – ZEUS 05/1998 Bypass mạch vành Trung tâm tim Leipzig - Da Vinci (robotically assisted heart bypass) 10/1999 Ghép bypass mạch vành trên tim đập Canada/Dr.Douglas Boyd-ZEUS bình thường(beating heart coronary artery bypass) 2001 Cắt túi mật cho BN ở Pháp với PTV GS Marescaux – ZEUS đang ở Mỹ 01/2009 Tổng kết lớn nhất về hiệu quả của Dr.Todd Tillmanns - Da Vinci PTNS bằng robot 01/2009 Ghép thận qua phẫu thuật nội soi bằng New Jersey/Dr. Stuart Geffner – Da Vinci robot 10/2009 PTNS một vết mổ bằng robot để cắt đại North Shore University Hospital, tràng Manhasset/Ostrowitz - Da Vinci 1.
Ưu điểm Phẫu thuật nội soi (PTNS) có sự hỗ trợ của Robot là một bước tiến mới của phẫu thuật ít xâm lấn, cải thiện những bất lợi của PTNS thông thường. Hệ thống PTNS Robot có những thuận lợi kỹ thuật như: hình ảnh không gian 3 chiều giúp phẫu thuật viên bóc tách và khâu nối tinh tế, nâng cao tầm nhìn độ nét cao với lên đến 10 lần phóng đại, dụng cụ nội soi chuyển động 7 hướng giống bàn tay người, giảm tối đa hiện tượng rung tay, vì vậy thao tác phẫu thuật sẽ khéo léo và chính xác hơn hẳn PTNS khác. Về lý thuyết, PTNS Robot hỗ trợ cho phép cắt những sang thương gần mạch máu lớn, vùng rốn gan và các cấu trúc phức tạp. Các dụng cụ phẫu thuật do Robot điều khiển có khả năng luồn lách vào các khoang nhỏ nhất một cách linh hoạt, chính xác, đặc biệt hữu ích trong phẫu thuật nạo vét hạch trong phẫu thuật ung thư ổ 6 bụng hay lồng ngực.
Kết hợp với tầm nhìn được tăng cường từ màn hình nội soi 3D, chuẩn HD, phóng đại 12 lần, bác sĩ phẫu thuật có thể kiểm soát tốt ca phẫu thuật, cắt lọc tối đa các khối ung thư, mang lại lợi ích lớn cho người bệnh [36]. Nhìn chung, qua nhiều nghiên cứu, phẫu thuật nội soi Robot mang đến nhiều sự cải tiến có lợi cho người bệnh so với các phương pháp nội soi khác: vết mổ nhỏ, độ chính xác cao, lấy hết các mô bệnh, không làm tổn thương các mô xung quanh, ít để lại sẹo; giảm lượng mất máu; giảm tối thiểu chấn thương do đó giảm các cơn đau và hạn chế sử dụng thuốc; thời gian hồi phục ngắn hơn; giảm nguy cơ nhiễm trùng; phục hồi sức khoẻ sớm, rút ngắn thời gian nằm viện, tiết kiệm chi phí cho cả người bệnh và cơ sở y tế. Hệ thống Robot da Vinci Hệ thống Robot da Vinci hiện đã phát triển đến thế hệ thứ 4 với nhiều cải tiến nhằm tối ưu hóa điều trị cho người bệnh. Hệ thống bao gồm: Bàn điều khiển – cho phép các bác sĩ có thể ngồi ở vị trí xa phẫu trường vẫn có thể quan sát và thực hiện phẫu thuật bằng các hoạt động tinh tế của ngón tay trên cần điều khiển thông minh với sự hỗ trợ của màn hình nội soi 3D, chuẩn HD; Tháp phẫu thuật (tower, patient cart) với 4 cánh tay robot mang các thiết bị phẫu thuật tinh xảo, cho phép di chuyển tự do 4 góc độ và góc phẫu thuật được mở rộng lên tới 540 độ nâng cao năng lực của đôi tay bác sĩ phẫu thuật và thiết bị ghi hình trực quan (camera); Hệ thống xe đẩy với màn hình phẫu thuật sắc nét đặt gần khu vực bàn phẫu thuật để các bác sĩ phụ phẫu thuật quan sát [53] [31].
Thực trạng áp dụng phẫu thuật nội soi bằng Robot tại Việt Nam Tại các bệnh viện khác Ngày 20/2/2014, Việt Nam lần đầu tiên đưa phương pháp PTNS có sự hỗ trợ của Robot áp dụng cho 2 bệnh nhi bị phình đại tràng bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương [4]. Trên thế giới chỉ có một số ít quốc gia có nền y học tiên tiến như Mỹ, Nhật Bản… tiến hành thành công phẫu thuật bằng robot trên bệnh nhi và Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á áp dụng. Để chuẩn bị triển khai về chuyên môn, bệnh viện đã cử cán bộ tham quan và học tập tại nhiều nước nhất là Hàn Quốc, nơi phẫu thuật bằng robot phát triển rất mạnh. Đầu tháng 2/2014, khi robot về đến Việt Nam, 7 một chương trình đào tạo tích cực trên mô hình và phẫu thuật trên động vật đã được tiến hành thực nghiệm tại Bệnh viện Nhi Trung ương [17].
Đến năm 2016, Bệnh viện Bình Dân là bệnh viện thứ hai ứng dụng phẫu thuật Robot hỗ trợ và là bệnh viện đầu tiên áp dụng phẫu thuật cho người lớn. Năm 2017, bệnh viện thứ ba triển khai thực hiện là bệnh viện Chợ Rẫy. Tính đến tháng 12/2018, tại Việt Nam đã có 06 bệnh viện được phép thực hiện PTNS bằng Robot: BV Nhi Trung ương, BV Bình Dân, BV Chợ Rẫy, BV Việt Đức, BV Bạch Mai, BVĐK Quốc tế Vinmec Times City. Tại Bệnh viện Bình Dân Trên thế giới, PTNS Robot đã được áp dụng rất nhiều, năm 2010 có trên 300.000 trường hợp được tiến hành, trong đó có 98.000 trường hợp là phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt triệt để, PTNS Robot hiện nay chiếm 80% các trường hợp phẫu thuật tuyến tiền liệt [52].
Được sự phê duyệt "Đề án phẫu thuật Robot tại Bệnh viện Bình Dân" của UBND TP. Hồ Chí Minh, Sở Y tế TP.HCM và được sự thẩm định, cho phép triển khai đề án trên danh mục 14 loại phẫu thuật của Bộ Y tế; Bệnh viện Bình Dân đã chính thức đưa hoạt động kỹ thuật phẫu thuật Robot cho người lớn vào ngày 10/12/2016 - đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong điều trị ngoại khoa cho người bệnh. Danh mục 14 kỹ thuật được Bộ Y tế phê duyệt thực hiện tại Bệnh viện Bình Dân: ung thư tuyến tiền liệt; cắt bàng quang tận gốc; cắt thận bán phần, toàn phần; tạo hình khúc nối bể thận - niệu quản; điều trị sa sinh dục; tạo hình bàng quang bằng ruột; ung thư dạ dày; ung thư đại trực tràng; ung thư gan; nang ống mật chủ; ung thư tụy; ung thư đường mật ngoài gan; ung thư phổi; u trung thất. Trong báo cáo về “Áp dụng kỹ thuật nội soi robot để phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc do ung thư - kinh nghiệm sau một năm thực hiện” của Vũ Lê Chuyên và các cộng sự khi nghiên cứu, nhóm tác giả nghiên cứu trên 52 trường hợp ung thư tuyến tiền liệt được cắt tuyến tiền liệt tận gốc qua nội soi ổ bụng có Robot hỗ trợ tại Khoa Niệu, Bệnh viện Bình Dân, từ tháng 12/2016 đến tháng 9/2017.
Kết luận của nhóm tác giả cho thấy mặc dù số trường hợp còn ít và thời gian theo dõi ngắn, các kết quả ban đầu của kỹ thuật cắt toàn phần tuyến tiền liệt qua nội soi ổ bụng có Robot 8 hỗ trợ tương đối khả quan, chứng tỏ phẫu thuật có thể thực hiện được an toàn với các biến chứng chấp nhận được [16]. Với các bệnh lý gan mật tuỵ, trong báo cáo nghiên cứu hàng loạt ca 10 trường hợp (3 trường hợp ung thư gan trái, 2 trường hợp u thân đuôi tụy, 1 trường hợp túi mật và 4 trường hợp nang ống mật chủ), tác giả Trần Vĩnh Hưng và nhóm nghiên cứu cho kết quả thành công 9 trường hợp, 1 trường hợp nang ống mật chủ chuyển mổ mở. Không có biến chứng trong phẫu thuật, không có biến chứng nặng, không có tử vong [23]. Việc triển khai PTNS Robot giúp nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh tại Bệnh viện Bình Dân nói riêng và của cả nước nói chung, bên cạnh đó, việc thực hiện được phẫu thuật tân tiến sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ người bệnh ra nước ngoài điều trị.
Dịch vụ phẫu thuật nội soi bằng Robot tại Bệnh viện Bình Dân Dịch vụ PTNS bằng Robot tại BV Bình Dân được hiểu là quá trình khách hàng được tiếp cận, sử dụng tất cả các dịch vụ tại bệnh viện Bình Dân bao gồm: khám bệnh ngoại trú, phẫu thuật bằng phương pháp nội soi có sự hỗ trợ của Robot, các dịch vụ khác trong quá trình điều trị nội trú (tiền phẫu, hậu phẫu). Khám bệnh ngoại trú: là tất cả các dịch vụ khách hàng được tiếp cận, sử dụng tại khu khám bệnh ngoại trú của bệnh viện.