Chương 1 3 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu vùng cổ, tuyến giáp và hệ thống hạch bạch huyết của tuyến giáp 1. Giải phẫu vùng cổ trước: Vùng cổ trước bên chứa tất cả các thành phần quan trọng đi qua cổ: các tạng thuộc hệ hô hấp (thanh quản, khí quản), hệ tiêu hoá (thực quản), tuyến giáp và các tuyến cận giáp, các bó mạch, thần kinh (TK) (bó mạch cảnh, các thần kinh X, XI, XII, đám rối TK cổ, đám rối TK cánh tay, chuỗi hạch giao cảm cổ). Sơ đồ cắt ngang qua đốt sống cổ 5 [20] - Động mạch (ĐM) cảnh chung: ĐM cảnh chung trái tách trực tiếp từ cung ĐM chủ còn bên phải là một trong hai nhánh tận của ĐM thân cánh tay đầu.
Liên quan: Thành trong là hầu, thực quản, thanh quản, khí quản, thuỳ bên tuyến giáp và dây TK thanh quản quặt ngược. ĐM cảnh chung thường chỉ đi qua cổ và không cho nhánh bên nào. - Tĩnh mạch (TM) cảnh ngoài: Đổ vào TM dưới đòn, ở phía ngoài cơ bậc thang trước. 4 - Tĩnh mạch (TM) cảnh trong: Đi cùng với ĐM cảnh trong ở trên, ĐM cảnh chung ở dưới và dây thần kinh X.
ĐM và TM cảnh trong nằm trong bao cảnh hai bên cổ dọc theo chiều dài của thuỳ tuyến giáp. Đây là những thành phần rất nguy hiểm khi bị tổn thương. Mạch máu vùng cổ và tuyến giáp (nhìn thẳng) [20] - Thần kinh: Dây thần kinh X, Ở vùng cổ trước, dây X đi sau ĐM và TM cảnh. Nhánh bên + Dây thanh quản trên: Chạy vòng quanh, sau đó bắt chéo mặt trong của ĐM cảnh trong tới bờ trên xương móng chia làm 2 nhánh trong và ngoài: Nhánh trong: Chạy ngang vào màng giáp-móng và tận hết ở thanh quản Nhánh ngoài: Là nhánh dưới của dây thanh quản trên, nếu bị tổn thương dẫn đến khó nói do mất sự điều chỉnh âm thanh.
+ Dây thanh quản dưới phải: Sinh ra từ dây X ở chỗ bắt chéo với phần đầu tiên của ĐM dưới đòn. Chạy quặt ngược lên ở trong khe giữa của khí quản 5 và thực quản, đi sau dây chằng bên Berry, vào trong thanh quản ở bờ dưới bó nhẫn-hầu của cơ căng màn hầu dưới. Dây quặt ngược thường phân chia ở chỗ bắt chéo với nhánh của ĐM giáp dưới. Chỉ có nhánh vào thanh quản mới là nhánh vận động.
+ Dây thanh quản dưới trái: Tách ra từ dây X ở bờ dưới quai ĐM chủ. Chạy quặt ngược lên ở trong mặt bên của khí quản, trước thực quản, đi sau dây chằng bên Berry, vào trong thanh quản ở bờ dưới bó nhẫn-hầu của cơ căng màn hầu dưới. - Tuyến cận giáp Hình bầu dục, dẹt, màu vàng nâu, nằm ở bờ sau của thuỳ tuyến giáp, trong bao tuyến. Kích thước trung bình: dài 6mm, rộng 3-4 mm và dày khoảng 1-2 mm, nặng chừng 50 mg.
Có từ 2-6 tuyến, thường có 4 tuyến. Các tuyến cận giáp liên quan với bờ sau thuỳ bên của tuyến giáp. Sự tiếp nối giữa ĐM giáp trên và giáp dưới nằm dọc theo bờ sau thuỳ bên tuyến giáp có liên quan mật thiết với các tuyến cận giáp, là mốc để tìm tuyến cận giáp. ü Tuyến cận giáp trên: Có thể ở 1 trong 3 vị trí: + Vị trí 1: ở ngay phía trên của tuyến giáp tiếp giáp với sụn giáp.
+ Vị trí 2: Phía trên sừng nhỏ của sụn giáp. + Vị trí 3: ở gần thân ĐM giáp dưới và các nhánh chia lên trên. ü Tuyến cận giáp dưới: ở 1 trong 3 vị trí sau: + Vị trí 1: Sát nhánh của ĐM giáp dưới chia xuống dưới hoặc trong đám mỡ xung quanh dây quặt ngược. + Vị trí 2: ở tổ chức lỏng lẻo xung quanh cực dưới TG (phía sau hoặc phía dưới) hoặc trong khoảng giữa đỉnh tuyến ức và TG.
+ Vị trí 3: ở đỉnh tuyến ức hoặc là phần thấp của tổ chức xung quanh TK quặt ngược. 6 Các tuyến cận giáp được cấp máu bởi các nhánh tận của ĐM giáp trên và dưới hoặc các nhánh nối giữa hai ĐM này. • Thanh quản-khí quản ü Thanh quản:ở phía trước thanh hầu từ ngang C4 - C6 ü Khí quản:ở phía trước thực quản, eo tuyến giáp dính chắc vào khí quản ở các vòng sụn 2,3,4. Giải phẫu tuyến giáp 1.
Đại cương Tuyến giáp nằm ở phần trước của cổ, phía trước các vòng sụn khí quản đầu tiên và hai bên thanh quản, giàu mạch máu, màu nâu đỏ, hình dạng thay đổi từ chữ U đến chữ H. Các phần của TG: thuỳ phải và thùy trái nối với nhau bởi eo tuyến. Thuỳ tuyến có 3 mặt, 2 bờ và 2 cực. - Các mặt: Mặt ngoài hay mặt nông: được phủ bởi lớp nông là cơ ức- móng và bụng trên của cơ vai–móng, lớp sâu là cơ ức giáp.
Mặt trong liên quan tới thanh quản, khí quản, thực quản, cơ khít hầu dưới, nhánh ngoài của TK thanh quản trên và với TK thanh quản quặt ngược. Mặt sau ngoài liên quan với bao cảnh. - Các bờ: Bờ trước liên quan với nhánh trước của ĐM giáp trên. Bờ sau tròn, ở dưới liên quan với ĐM giáp dưới và ngành nối với nhánh sau của ĐM giáp trên, ở bờ sau có các tuyến cận giáp.
- Các cực: Cực trên liên quan với ĐM giáp trên. Cực dưới, liên quan với bó mạch giáp dưới và ống ngực ở bên trái. - Eo tuyến: Nằm vắt ngang khí quản, thường tách ra thuỳ tháp. Dọc theo bờ trên của eo tuyến có nhánh nối giữa hai ĐM giáp trên.
- Bờ dưới có TM giáp dưới. Cấu tạo Tuyến giáp được bọc trong bao mô liên kết mỏng, mỗi nang tuyến có một 7 hàng tế bào biểu mô trụ, hình dạng phụ thuộc vào tình trạng hoạt động của tuyến. Mỗi nang tuyến là một tiểu thuỳ tuyến. Như vậy TG có rất nhiều tiểu thuỳ.
Mô liên kết nằm giữa các nang tuyến gọi là chất đệm. Vị trí của các tuyến cận giáp và dây thanh quản [20].3 Mạch máu tuyến giáp - Động mạch giáp ü Động mạch (ĐM) giáp trên: là động mạch lớn nhất, và là nhánh trước đầu tiên của động mạch cảnh ngoài (rất hiếm gặp ở chỗ phân đôi của động mạch cảnh chung), sát ở cực trên của thuỳ tuyến. Động mạch giáp trên đi xuống ở mặt bên thanh quản bị cơ vai móng và cơ giáp móng phủ lên, phân chia hoặc ở chỗ tiếp xúc với tuyến hoặc ở xa thành 3 nhánh: Nhánh trong đi xuống về phía trong của cực trên trước khi nối với nhánh cùng tên ở bờ trên của eo. Nhánh sau nối với nhánh cùng tên đi từ dưới lên.
Nhánh ngoài nhỏ hơn, phân phối vào bề mặt trước ngoài của thuỳ. 8 ü ĐM giáp dưới là nhánh của ĐM thân giáp cổ tách ra từ ĐM dưới đòn. Các ĐM này có vòng nối dồi dào ở cùng bên và đối diện. ü ĐM giáp đơn bắt nguồn từ cung ĐM chủ hoặc từ ĐM không tên đi vào bờ dưới của eo tuyến.
- Tĩnh mạch (TM) Các TM của tuyến giáp tạo nên các đám rối ở trên mặt tuyến và phía trước khí quản, đổ vào các TM giáp trên, giáp dưới và giáp giữa. Chỉ có TM giáp trên đi theo ĐM cùng tên. TM giáp giữa từ mặt bên của tuyến, gần cực dưới, chạy ngang ra ngoài, đổ vào TM cảnh trong. TM giáp dưới bên phải đi xuống trước khí quản và đổ vào TM cánh tay đầu phải còn TM giáp dưới bên trái đi xuống dưới trước khí quản, qua cơ ức giáp đổ vào thân TM cánh tay đầu trái.
Các TM giáp dưới có thể tạo thành đám rối TM trước khí quản. Giải phẫu hạch vùng cổ và hạch của tuyến giáp 1. Phân nhóm hạch cổ Có khoảng 500 hạch bạch huyết trong cơ thể và 200 trong số này là ở vùng đầu cổ. Nhằm đơn giản hóa và thống nhất cách mô tả, hệ thống hạch vùng cổ được chia thành từng vùng có liên hệ với lâm sàng.
Hạch cổ được chia làm 6 nhóm: Hình 1. Phân nhóm hạch cổ [21] 9 Nhóm I: Nhóm dưới cằm và dưới hàm: Nhóm Ia: Tam giác dưới cằm. Giới hạn bụng trước cơ nhị thân, xương móng và đường giữa. Nhóm Ib: Tam giác dưới hàm.
Giới hạn là thân xương hàm dưới, bụng trước và bụng sau cơ nhị thân. Nhóm II: Nhóm hạch cảnh trên: Giới hạn trước: bờ ngoài cơ ức móng. Phía sau: bờ sau cơ ức đòn chũm. Phía trên: nền sọ.
Phía dưới: ngang mức xương móng (mức phân đôi của động mạch cảnh chung). Nhóm này được chia ra IIa, IIb bởi thần kinh XI. Nhóm III: Hạch cảnh giữa: Giới hạn trước: bờ ngoài cơ ức móng. Phía sau: bờ trước cơ ức đòn chũm.
Phía trên: ngang mức xương móng. Phía dưới: đường thẳng ngang qua chỗ cơ vai móng cắt tĩnh mạch cảnh trong. Nhóm IV: Nhóm cảnh thấp: Giới hạn trên: đường thẳng ngang qua chỗ cơ vai móng cắt tĩnh mạch cảnh trong. Phía dưới: xương đòn.
Phía trước: bờ ngoài cơ ức móng. Phía sau: bờ sau cơ ức đòn chũm. Nhóm IVa, dọc theo tĩnh mạch cảnh trong và sâu dọc đầu ức của cơ ức đòn chũm. Nhóm IVb, dọc theo đầu đòn của cơ ức đòn chũm.
Hạch nhóm II, III, IV gọi là nhóm cảnh gồm các hạch gắn với tĩnh mạch cảnh trong, mỡ và tổ chức liên kết ở phía trong và phía sau của cơ ức đòn chũm. Đặc biệt nhóm II liên quan mật thiết với thần kinh XI. Nhóm V: Nhóm hạch của tam giác sau, gồm những hạch khu trú dọc theo nửa thấp của thần kinh XI và động mạch cổ ngang. Giới hạn trước: bờ sau cơ ức đòn chũm.
Phía sau: bờ trước cơ thang. Phía dưới xương đòn. Bụng dưới cơ vai móng chia nhóm V thành: nhóm Va: hạch chạy dọc theo thần kinh XI, nhóm Vb: hạch chạy dọc động mạch cổ ngang. Nhóm VI: Gồm hạch trước khí quản, trước sụn nhẫn, quanh khí quản.
Giới hạn ngoài: bao cảnh, phía trên: xương móng, phía dưới: hõm thượng đòn. Hạch cổ trong UTTG Tuyến giáp là một tuyến giàu các mao mạch bạch huyết, các mao mạch được phân bố bao quanh các nang giáp, kế cận với các tế bào C tiết calcitonin. Mạng lưới mao mạch bạch huyết đổ về vùng dưới vỏ của tuyến giáp, sau đó chúng tập trung lại thành những ống góp nằm trong vỏ. Những ống góp có mối liên quan chặt chẽ với các tĩnh mạch ở vùng vỏ và chạy theo dẫn lưu của hệ tĩnh mạch của tuyến giáp.
Những vị trí đi ra của chúng gồm: Hạch sau hầu bên, hạch cơ hai bụng, hạch Delphian, hạch máng cảnh, hạch chuỗi quặt ngược, hạch trước khí quản phía trên, phía bên và phía dưới của tuyến, đi theo mạch giáp trên, động mạch giáp dưới, tĩnh mạch giáp giữa và đám rối tĩnh mạch giáp dưới.