Đánh Giá Hiệu Quả Phẫu Thuật Nội Soi Qua Xoang Bướm Trong Điều Trị U Tuyến Yên

Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả phẫu thuật nội soi qua xoang bướm trong điều trị u tuyến yên, phân tích kết quả và ứng dụng lâm sàng.

Trường đại học

Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2017

152
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. VÀI NÉT VỀ ỨNG DỤNG NỘI SOI TRONG PHẪU THUẬT LẤY U TUYẾN YÊN QUA XOANG BƯỚM

1.2. GIẢI PHẪU TUYẾN YÊN VÀ CÁC CẤU TRÚC LIÊN QUAN

1.2.1. Tuyến yên và vùng hạ đồi

1.2.2. Vùng hạ đồi

1.2.3. Khoang mũi

1.2.4. Khung xương của khoang mũi

1.2.5. Mạch máu của khoang mũi

1.2.6. Thần kinh chi phối khoang mũi

1.2.7. Xương bướm

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bảng thông tin dành cho đối tượng nghiên cứu và chấp thuận tham gia nghiên cứu

Phụ lục 2: Phiếu thu thập số liệu

Tóm tắt

I. Phẫu thuật nội soi qua xoang bướm

Phẫu thuật nội soi qua xoang bướm là phương pháp tiên tiến trong điều trị u tuyến yên. Kỹ thuật này được phát triển từ những năm 1990, mang lại nhiều ưu điểm như quan sát rõ ràng tổn thương, giảm thiểu biến chứng và thời gian hồi phục. Nghiên cứu của Jho (1997) đã chứng minh hiệu quả của phương pháp này, với tỷ lệ thành công cao và ít tác động đến cấu trúc xung quanh. Phẫu thuật nội soi qua xoang bướm đã trở thành tiêu chuẩn trong điều trị u tuyến yên tại nhiều trung tâm y tế lớn trên thế giới.

1.1. Lịch sử phát triển

Phương pháp phẫu thuật nội soi qua xoang bướm bắt đầu từ năm 1907 với ca mổ đầu tiên của Schloffer. Từ đó, kỹ thuật này đã được cải tiến liên tục, đặc biệt là sự ra đời của kính hiển vi phẫu thuật vào những năm 1960. Năm 1997, Jho đã mô tả chi tiết quy trình phẫu thuật nội soi qua xoang bướm, mở ra một kỷ nguyên mới trong điều trị u tuyến yên.

1.2. Ưu điểm và hạn chế

Phẫu thuật nội soi qua xoang bướm mang lại nhiều ưu điểm như giảm thiểu sang chấn, thời gian nằm viện ngắn và tỷ lệ biến chứng thấp. Tuy nhiên, kỹ thuật này đòi hỏi phẫu thuật viên có trình độ cao và trang thiết bị hiện đại. Nghiên cứu của Cappabianca (2002) đã chỉ ra rằng phương pháp này hiệu quả hơn so với phẫu thuật truyền thống.

II. U tuyến yên và chẩn đoán

U tuyến yên là loại u lành tính phổ biến, chiếm khoảng 10-15% các u trong sọ. Chẩn đoán u tuyến yên dựa trên các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng như chụp cộng hưởng từ (MRI) và xét nghiệm nội tiết. U tuyến yên có thể gây ra các rối loạn nội tiết hoặc chèn ép các cấu trúc xung quanh, dẫn đến các triệu chứng như đau đầu, rối loạn thị giác và suy giảm chức năng nội tiết.

2.1. Biểu hiện lâm sàng

Các triệu chứng của u tuyến yên bao gồm đau đầu, rối loạn thị giác, và các rối loạn nội tiết như tiết sữa bất thường, suy giảm chức năng sinh dục. Nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn (2017) đã chỉ ra rằng đau đầu là triệu chứng phổ biến nhất, chiếm 70% các trường hợp.

2.2. Chẩn đoán cận lâm sàng

Chẩn đoán u tuyến yên dựa trên chụp MRI và xét nghiệm nội tiết. MRI giúp xác định vị trí, kích thước và mức độ xâm lấn của khối u. Xét nghiệm nội tiết giúp đánh giá chức năng tuyến yên và xác định loại u tuyến yên.

III. Kết quả phẫu thuật và đánh giá

Kết quả phẫu thuật nội soi qua xoang bướm trong điều trị u tuyến yên được đánh giá dựa trên tỷ lệ lấy hết u, cải thiện triệu chứng và tỷ lệ biến chứng. Nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn (2017) cho thấy tỷ lệ thành công của phẫu thuật nội soi qua xoang bướm là 85%, với tỷ lệ biến chứng thấp. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật bao gồm kích thước u, mức độ xâm lấn và kinh nghiệm của phẫu thuật viên.

3.1. Tỷ lệ thành công

Nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn (2017) cho thấy tỷ lệ lấy hết u đạt 85%, với sự cải thiện đáng kể các triệu chứng lâm sàng. Kết quả phẫu thuật phụ thuộc vào kích thước và vị trí của khối u.

3.2. Biến chứng và yếu tố liên quan

Các biến chứng của phẫu thuật nội soi qua xoang bướm bao gồm chảy máu, nhiễm trùng và tổn thương các cấu trúc lân cận. Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ biến chứng thấp hơn so với phẫu thuật truyền thống, đặc biệt khi được thực hiện bởi các phẫu thuật viên có kinh nghiệm.

IV. Ứng dụng thực tiễn và giá trị nghiên cứu

Luận án của Phạm Anh Tuấn (2017) đã đóng góp quan trọng vào việc áp dụng phẫu thuật nội soi qua xoang bướm trong điều trị u tuyến yên tại Việt Nam. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để cải thiện chất lượng điều trị, giảm thiểu biến chứng và nâng cao hiệu quả phẫu thuật. Luận án tiến sĩ này là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho các bác sĩ và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ngoại thần kinh.

4.1. Giá trị thực tiễn

Nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn đã chứng minh hiệu quả và tính an toàn của phẫu thuật nội soi qua xoang bướm trong điều trị u tuyến yên. Đây là cơ sở để áp dụng rộng rãi phương pháp này tại các bệnh viện lớn ở Việt Nam.

4.2. Đóng góp khoa học

Luận án tiến sĩ này không chỉ cung cấp dữ liệu khoa học mà còn đề xuất các giải pháp cải tiến kỹ thuật phẫu thuật, góp phần nâng cao chất lượng điều trị u tuyến yên tại Việt Nam.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi qua xoang bướm điều trị u tuyến yên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. VÀI NÉT VỀ ỨNG DỤNG NỘI SOI TRONG PHẪU THUẬT LẤY U TUYẾN YÊN QUA XOANG BƯỚM 1. Ngoài nước Năm 1907, ca mổ UTY qua XB đầu tiên được thực hiện bởi Schloffer tại Áo theo đường mũi trên. Từ đó đã có vài tác giả cải tiến kỹ thuật này như Hirsch, Kanavel, Halstead[66].

Năm 1914, Cushing[66] đưa ra kỹ thuật mổ qua XB với đường rạch da dưới môi trên. Phương pháp này được mang tên ông và áp dụng rộng rãi về sau. Năm 1967, Hardy sử dụng kính hiển vi trong phẫu thuật lấy UTY qua XB. Kể từ đó phương pháp vi phẫu lấy UTY qua XB được nghiên cứu và cải tiến rất nhiều.

Phương pháp này được đánh giá là khá an toàn và hiệu quả. Lúc đầu các phẫu thuật viên tiếp cận XB theo đường dưới môi trên, về sau theo đường mũi để giảm bớt việc bóc tách niêm mạc [30],[50],[66]. Tuy nhiên phương pháp vi phẫu lấy UTY qua XB cần phải bóc tách rộng niêm mạc, đặt banh mũi nên phải đặt mèche mũi sau mổ gây khó chịu cho người bệnh. Ngoài ra do giới hạn của kính vi phẫu trong việc quan sát các góc trong hố yên nên vẫn còn một số biến chứng do chấn thương vào ĐM cảnh và dây thần kinh thị giác.

Từ những năm 90 của thế kỷ trước, phẫu thuật lấy UTY qua XB tiếp tục phát triển và đi vào xu hướng xâm lấn tối thiểu. Nhiều kỹ thuật ra đời được ứng dụng vào phẫu thuật qua XB: nội soi, CHT trong lúc mổ, siêu âm trong yên, navigation [17],[21],[50],[57],[66]. 5 Năm 1997, Jho đã mô tả chi tiết phẫu thuật nội soi lấy UTY qua XB [53]. Năm 1999, Badie so sánh kỹ thuật nội soi với vi phẫu lấy UTY qua XB, đã nhận thấy rằng phương pháp nội soi giảm được các khó chịu ở mặt và mũi sau mổ, giảm thời gian nằm viện [17].

Cappabianca (2002), phân tích 100 trường hợp mổ nội soi lấy UTY qua XB. Tác giả kết luận rằng: phương pháp này ít gây sang chấn cho vùng mũi và mặt so với mổ vi phẫu nên ít biến chứng, hiệu quả hơn [23]. Các nghiên cứu khác với số lượng lớn bệnh nhân đều có kết luận tương tự và nội soi lấy UTY qua XB đã được áp dụng thường qui tại các trung tâm phẫu thuật thần kinh trên thế giới [24], [25], [32],[35],[52],[62]. Từ những thành công trong phẫu thuật lấy UTY, những năm gần đây kỹ thuật nội soi qua XB được ứng dụng để lấy đi các khối u vùng trên yên và quanh yên [34],[98].

Trong nước Tại Việt Nam, trước năm 2000, tất cả các UTY được phẫu thuật theo phương pháp qua sọ với tỷ lệ biến chứng và tử vong còn cao. Phẫu thuật qua XB dưới kính hiển vi được thực hiện từ sau năm 2000 tại 2 trung tâm lớn là BV Chợ Rẫy và BV Việt Đức. Các phẫu thuật viên đều sử dụng đường mổ dưới môi trên cho kỹ thuật này [6],[10]. Năm 2003, Lý Ngọc Liên nghiên cứu 83 trường hợp lấy UTY qua XB cho thấy không có tử vong liên quan đến cuộc mổ và tỷ lệ biến chứng là 13,2% [6].

Năm 2007, Kiều Đình Hùng báo cáo 86 trường hợp vi phẫu thuật lấy UTY qua XB, kết quả tốt là 68,6% [3]. Năm 2008, Trần Thiện Khiêm cho thấy navigation có vai trò rất lớn giúp phẫu thuật lấy u qua XB đạt được độ chính xác cao hơn [5]. 6 Ứng dụng nội soi trong phẫu thuật thần kinh bắt đầu từ năm 2003 tại BV Chợ Rẫy và sau đó là BV Việt Đức. Tuy nhiên chủ yếu là giải quyết các bệnh lý: não úng thuỷ, nang trong sọ, u trong não thất [15],[16].

Trước năm 2008, phẫu thuật nội soi lấy UTY chưa được áp dụng thường qui tại Việt Nam. Từ năm 2008 tại BV Đại học Y Dược và BV Nguyễn Tri Phương, chúng tôi đã thực hiện phẫu thuật nội soi lấy UTY thay cho phương pháp vi phẫu trước đây. Từ năm 2013 đến 2015, Đồng Văn Hệ, Kiều Đình Hùng, Nguyễn Phong đã báo cáo kết quả của phẫu thuật nội soi lấy UTY qua XB cho thấy phương pháp này cũng hiệu quả và an toàn [2],[4],[11]. GIẢI PHẪU TUYẾN YÊN VÀ CÁC CẤU TRÚC LIÊN QUAN 1.

Tuyến yên và vùng hạ đồi 1. Giải phẫu và chức năng tuyến yên Về sinh lý, TY được chia ra làm hai phần riêng biệt: TY trước, được biết là TY tuyến (thùy trước TY, gọi tắt là thùy trước) và TY sau, hay TY thần kinh (thùy sau TY, gọi tắt là thùy sau) [8]. TY nối với vùng hạ đồi bằng cuống TY. Cuống TY có các thành phần: tuyến, mạch máu và các thành phần thần kinh.

Thùy trước được cấu tạo bởi các tế bào chế tiết, gồm 5 loại tế bào tiết ra 6 loại hormone đóng vai trò chính trong sự kiểm soát chức năng chuyển hóa của toàn cơ thể. Đó là: Somatotrop tiết hormone tăng trưởng (GH), corticotrop tiết hormone hướng võ thượng thận (ACTH), thyrotrop tiết hormone kích thích tuyến giáp (TSH), gonadotrop tiết hormone kích thích nang trứng (FSH) và hormone tạo hoàng thể (LH), lactotrop tiết hormone kích thích tuyến vú (prolactin). 7 Thùy sau chứa hai hormone là hormone kháng lợi niệu (ADH) và oxytocin gây co cơ trơn tử cung và tuyến vú.1: Sơ đồ các mạch máu của hệ thống cửa TY và các đường vận chuyển của TY sau. “Nguồn: Phạm Đình Lựu, 2008” [8] 1.

Vùng hạ đồi Vùng hạ đồi là phần trước nhất của gian não, nằm dưới và trước đồi thị, tạo thành sàn và tầng bụng hai thành bên não thất ba. Trọng lượng chỉ khoảng 4 g nhưng là một vùng rất quan trọng và phức tạp. Đây là trung khu thần kinh cao cấp chi phối mọi hoạt động của hệ thần kinh tự chủ, bao gồm: chức năng điều hòa thân nhiệt, thèm ăn, thăng bằng nước, điều hòa nội tiết TY [14]. Sự điều hòa bài tiết tuyến yên do vùng hạ đồi Chức năng TY và vùng hạ đồi được chia làm hai hệ thống: vùng hạ đồi- tuyến yên tuyến và vùng hạ đồi-tuyến yên thần kinh [8],[14].

8 Hệ thống vùng hạ đồi-tuyến yên tuyến gồm các nơron đặc biệt ở vùng hạ đồi tổng hợp và bài tiết các hormone giải phóng và ức chế, có tác dụng kiểm soát sự bài tiết các hormone của thùy trước.2: Vùng hạ đồi và tuyến yên “Nguồn: Netter F.H, 1997” [9] Hệ thống vùng hạ đồi-tuyến yên thần kinh bao gồm các cặp nhân trên thị và cạnh não thất trong vùng hạ đồi. Các cặp nhân này sản xuất vasopressin và oxytocin, được vận chuyển xuống thùy sau. Khoang mũi Là 1 khoang rộng ở phía dưới hơn phía trên, được bao bọc ở trên là hố sọ trước, phía ngoài là xoang hàm và ổ mắt và bên dưới là phần khẩu cái. Vách ngăn mũi ngăn đôi khoang mũi.

Khoang mũi thông với bên ngoài qua lỗ mũi trước và vùng hầu họng qua lỗ mũi sau. Lỗ mũi sau được giới hạn phía trên là mặt trước XB, bên dưới là mảnh nằm ngang của xương khẩu cái, phía trong là phần sau của vách ngăn mũi và bên ngoài là mảnh chân bướm trong [12],[13],[75]. Khung xương của khoang mũi: bao gồm: - Trần mũi: được hình thành bởi xương mũi, mỏm trán của xương mũi, mảnh sàng của xương sàng và phần trước của thân xương bướm. - Sàn mũi: cấu tạo gồm mỏm khẩu cái của xương hàm trên và mảnh nằm ngang của xương khẩu cái, được niêm mạc che phủ.3: Khung xương của khoang mũi “Nguồn: Netter F.H, 1997” [9] - Thành trong hay vách ngăn mũi: được hình thành bởi mảnh thẳng của xương sàng ở phía trước và phía trên, xương lá mía ở bên dưới và phía sau.

Phần trước của vách ngăn mũi không có xương mà thay thế bằng sụn vách. - Thành ngoài: cấu tạo gồm 3 cuốn mũi. Cuốn mũi dưới là một xương riêng biệt. Cuốn mũi giữa và trên là phần của xương sàng.

Xoang hàm, xoang trán và phần trước của xoang sàng đổ vào khoang mũi qua các lỗ bán nguyệt. Lớp lót của khoang mũi: Mũi là một phần của đường hô hấp trên nên được lót chủ yếu bởi biểu mô của đường hô hấp. Tiền đình mũi là ngoại lệ được lót bởi biểu mô vảy 10 keratin hóa. Cuốn mũi trên và phần vách ngăn mũi đối diện được lót bởi biểu mô khứu giác.

Mạch máu của khoang mũi: Các nhánh của ĐM mắt và ĐM hàm cung cấp máu cho khoang mũi. ĐM mắt cho nhánh sàng trước và sau. ĐM sàng trước cung cấp máu bên trong mũi đến phần trước các cuốn mũi. ĐM sàng sau cung cấp máu cho cuốn mũi trên và nửa trước của cuốn mũi giữa.

ĐM hàm cho nhánh bướm khẩu cái đến cuốn mũi giữa, dưới và 2/3 sau của vách ngăn mũi. TM thường đi kèm với ĐM và hình thành các đám rối TM. Thần kinh chi phối khoang mũi:` Hình 1.4: Mạch máu và thần kinh của khoang mũi “Nguồn: Netter F.H, 1997” [9] Các sợi thần kinh khứu giác đi từ niêm mạc mũi qua mảnh sàng tới hành khứu làm nhiệm vụ ngửi. Thần kinh sinh ba và hạch chân bướm khẩu cái cung cấp các nhánh cho mũi để làm nhiệm vụ cảm giác bao gồm: các 11 nhánh mũi của thần kinh sàng trước, nhánh mũi sau trên ngoài và mũi sau dưới ngoài, thần kinh mũi khẩu cái.

Xương bướm Xương bướm nằm ở trung tâm của sàn sọ. Do thân xương bướm có liên quan mật thiết với khoang mũi bên dưới và TY bên trên nên đường xuyên xương bướm trở thành đường mổ được chọn lựa cho hầu hết những u vùng hố yên. Xương bướm gồm có các phần: thân ở giữa, hai cánh lớn, hai cánh bé dang ra hai bên và hai mỏm chân bướm nhô ra từ mặt dưới [75]. Xoang bướm XB nằm trong phần thân của xương bướm, là trung tâm của sàn sọ và được bao bọc bởi nhiều cấu trúc mạch máu và thần kinh quan trọng.

XB ngăn cách với XH, ĐM cảnh trong, dây II. Đồng thời nó cũng ngăn cách TY với khoang mũi [75]. Khi mới sinh, XB chỉ là một khoang nhỏ. Nó phát triển dần nhưng chủ yếu sau thời kỳ dậy thì.

Cùng với sự phát triển lớn lên của xoang là thành xương mỏng đi. XB có hình dạng, kích thước thay đổi theo từng cá nhân do mức độ tạo khoang khí của xoang khác nhau. Hammer và cộng sự phân mức độ tạo khoang khí của XB thành 3 loại: loại vỏ ốc, loại trước yên và loại yên. Phân loại này vẫn còn được áp dụng cho đến ngày nay.

Theo Rhoton, ở người trưởng thành, loại yên là loại thường gặp nhất chiếm 76% có mức độ tạo khoang khí tốt nhất. XB thường bị chia đôi bởi vách dọc giữa, vách này rất thay đổi về hình thái, kích thước, vị trí và số lượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ với tiêu đề "Đánh Giá Kết Quả Phẫu Thuật Nội Soi Qua Xoang Bướm Điều Trị U Tuyến Yên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của phương pháp phẫu thuật nội soi trong điều trị u tuyến yên. Tài liệu này không chỉ phân tích kết quả phẫu thuật mà còn đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của quy trình, từ đó giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu có thêm thông tin quý giá trong việc cải thiện kỹ thuật và kết quả điều trị cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến y học và điều trị, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2", nơi khám phá mối liên hệ giữa các yếu tố sinh học và nguy cơ tim mạch. Bên cạnh đó, tài liệu "Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị phối hợp anthracycline và taxane" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp điều trị hiện đại trong ung thư. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về "Luận án tiến sĩ nghiên cứu mật độ xương tình trạng vitamin d và một số markers chu chuyển xương ở trẻ từ 6 đến 14 tuổi tại thành phố cần thơ", tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sức khỏe xương và các yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em.

Mỗi tài liệu đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề y học quan trọng, mở rộng kiến thức và nâng cao hiểu biết của mình.