ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc dùng cho việc phòng và chữa bệnh là một loại hàng hóa đặc biệt, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của người sử dụng [8]. Do vậy, thực hành kê đơn và sử dụng thuốc không hợp lý sẽ làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng của các dịch vụ y tế, làm giảm hiệu quả điều trị, đồng thời còn làm ảnh hưởng đến sự tuân thủ trị liệu của bệnh nhân. Bên cạnh đó, quá trình chẩn đoán và điều trị bằng thuốc là một quá trình phức hợp. Hiện còn chưa có các kỹ thuật để đánh giá chính xác chất lượng của quá trình này theo một phương thức khách quan và chuẩn mực.
Xuất phát từ thực trạng đó, năm 1985, Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) đã tổ chức một hội nghị lớn ở Nairobi về sử dụng thuốc hợp lý. Kể từ đó, ngày càng có nhiều nỗ lực để thúc đẩy cải thiện thực hành sử dụng thuốc. Theo đó, Tổ chức Y tế thế giới đã đề nghị một số lượng nhất định các tiêu chuẩn khách quan để có thể mô tả tình trạng sử dụng thuốc ở một quốc gia, khu vực, từng cơ sở y tế cụ thể hay có thể dùng để so sánh giữa các cơ sở y tế với nhau, để từ thực tiễn đó xây dựng một hệ thống chăm sóc sức khỏe hoàn thiện hơn [17]. Ngoài ra, các chỉ số này được tiêu chuẩn hóa ở mức cao và cung cấp một công cụ đơn giản cho việc đánh giá nhanh và đáng tin cậy trong việc sử dụng thuốc [22].
Với những gợi ý của Tổ chức Y tế thế giới về các chỉ số sử dụng thuốc chủ yếu như các chỉ số về chăm sóc bệnh nhân, người dược sĩ lâm sàng cùng với đội ngũ các nhân viên y tế đã và đang đóng một vai trò quan trọng, thiết yếu trong lĩnh vực thực hành sử dụng thuốc, chăm sóc và hướng dẫn bệnh nhân sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, kinh tế. Trong quản lý việc sử dụng thuốc và điều trị hiệu quả, đối tượng sử dụng thuốc là một vấn đề cần được theo dõi chặt chẽ. Trong đó trẻ em được xem là 2 đối tượng đặc biệt cần được chú trọng [13]. Tại Việt Nam, trẻ em chiếm 21% dân số [3].
Đây là đối tượng cần được hưởng các loại thuốc an toàn, hiệu quả và phù hợp với lứa tuổi. Tuy nhiên, việc cung cấp các loại thuốc tối ưu cho trẻ em bị hạn chế nhiều bởi sự thiếu các động cơ thương mại, thiếu những thử nghiệm lâm sàng về thuốc cho trẻ em, sự chậm trễ trong việc cấp phép các loại thuốc cho trẻ em và sự vắng mặt của các công thức phù hợp cho lứa tuổi này [46]. Hiện nay, các nghiên cứu dịch tễ học về sử dụng thuốc ở người trưởng thành được thực hiện khá nhiều, trong khi ở trẻ em còn hạn chế. Do đó, việc sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả ở trẻ em đòi hỏi phải có các chiến lược trị liệu về thuốc thật thận trọng [26].
Nghiên cứu của chúng tôi tập trung chủ yếu vào nhóm bệnh nhi ngoại trú nhỏ hơn 6 tuổi đang điều trị tại các cơ sở y tế nhà nước trên địa bàn thành phố Cần Thơ là nhóm đối tượng có mức độ bệnh tật từ nhẹ đến trung bình, có thể nhận quá nhiều thuốc so với thực tế - điều này có thể gây nên việc gia tăng chi phí điều trị, tương tác thuốc và sự đề kháng với kháng sinh. Từ các thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Đánh giá các chỉ số chăm sóc bệnh nhân ở trẻ nhỏ hơn 6 tuổi khám ngoại trú tại các cơ sở y tế nhà nƣớc trên địa bàn thành phố Cần Thơ” với các mục tiêu sau: - Đánh giá các chỉ số thời gian khám bệnh trung bình và thời gian phân phát thuốc trung bình tại các cơ sở y tế nhà nước trên địa bàn thành phố Cần Thơ. - Đánh giá các chỉ số tỉ lệ % các thuốc thực tế đã phân phát, tỉ lệ % các thuốc được dán nhãn thích hợp, sự hiểu biết của bệnh nhân về liều lượng chính xác tại các cơ sở y tế nhà nước trên địa bàn thành phố Cần Thơ. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm 1. Thuốc Trong Luật dược số 34/2005/QH11 ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005, quy định rõ: thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vaccine, sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm chức năng [4]. Ngành Dược đã cung ứng đủ thuốc cho nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân [5]. Thuốc sản xuất trong nước đã chiếm gần 50% thị phần dược phẩm.
Từ những cơ sở sản xuất, cung ứng nhỏ bé, đến nay ngành Dược đã xây dựng được một hệ thống tương đối hoàn chỉnh từ sản xuất, xuất nhập khẩu, lưu thông phân phối thuốc tới tận người bệnh. Những thay đổi trong hệ thống cung ứng thuốc đã tạo điều kiện cho thầy thuốc và người bệnh được tiếp cận nhanh chóng với những thành tựu của nhân loại, được sử dụng những loại thuốc mới phát minh, những thuốc chuyên khoa đặc trị dùng để chẩn đoán và chữa trị những bệnh nan y [15]. Sử dụng thuốc an toàn, hợp lý Sử dụng thuốc hợp lý là một thực hành y tế được thực hiện bởi cả người kê đơn và người tiêu dùng đi đôi với việc sử dụng có trách nhiệm các loại thuốc [47]. Sử dụng thuốc hợp lý là một vấn đề quan trọng mà ngành y tế đã đưa ra thành một cuộc vận động lớn, rộng rãi trong ngành nhiều năm qua [6].
Sự nhầm lẫn về tên thương hiệu, áp lực khối lượng công việc quá lớn của người dược sĩ và bác sĩ, yếu tố chi phí, thái độ của bệnh nhân, không thống 4 nhất trong việc cung cấp thuốc và nhãn mác của thuốc là một số vấn đề hàng đầu về sử dụng thuốc hợp lý [38]. Sử dụng thuốc không hợp lý là một vấn đề toàn cầu và sẽ trở nên nguy hiểm hơn cả việc không có thông tin thuốc [48]. Nó đang diễn ra ở cả nước đang phát triển và phát triển. Ở các nước đang phát triển, vấn đề này là rất lớn và không được ghi chép lại.
TCYTTG ước tính rằng hơn 50% của các loại thuốc trên thế giới được kê đơn, phân phối, hoặc bán không thích hợp, trong khi đó 50% số bệnh nhân không sử dụng thuốc một cách đúng đắn. Hơn nữa, khoảng một phần ba dân số thế giới không được tiếp cận với các thuốc thiết yếu [47]. Sử dụng thuốc không hợp lý, đặc biệt là kháng sinh, gây ra sự kháng thuốc trong cộng đồng, làm tăng tác dụng phụ của thuốc và chi phí cần thiết để mua thuốc. Bên cạnh đó, mua thuốc để tự điều trị là một thực trạng rất phổ biến, những quy định về bán thuốc theo đơn đã không được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc.
Phác đồ điều trị tiêu chuẩn không được phát triển và cập nhật, do đó không có tiêu chí để kiểm soát việc kê đơn thuốc. Hơn nữa, còn có sự thiếu hụt nghiêm trọng của dược sĩ đại học ở cấp huyện để tư vấn sử dụng thuốc an toàn và hợp lý, bác sĩ không có số liệu thống kê của sự đề kháng thuốc như một tài liệu tham khảo để kê đơn hợp lý và kiểm tra vi sinh cũng không được thực hiện đầy đủ [35]. Thúc đẩy sử dụng hợp lý các loại thuốc kê đơn sẽ giúp cho người tiêu dùng hưởng được lợi ích về sức khỏe và tiết kiệm về tài chính. Từ đó, các cơ sở dữ liệu của TCYTTG về sử dụng thuốc trong chăm sóc sức khỏe ban đầu ở các nước có thu nhập thấp và trung bình đã được cập nhật và công bố.
Các phân tích này cho thấy hơn 50% các loại thuốc ở các nước có thu nhập thấp và trung bình được sử dụng không hợp lý và tình hình này xảy ra tồi tệ hơn ở các cơ sở y tế tư nhân hơn là ở các cơ sở y tế nhà nước [43]. 5 Tính hợp lý, an toàn phải cân nhắc sao cho các chỉ số Hiệu quả/Rủi ro (không an toàn) và Hiệu quả/Kinh tế đạt cao nhất [41]. Việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn là một vấn đề quan trọng trong công tác phòng và chữa bệnh. Góp phần điều trị thành công và phụ thuộc vào: Thuốc – Thầy thuốc – Bệnh nhân [41].
Khả năng trị liệu của thuốc có thể được đảm bảo nếu chúng: - Phù hợp với bệnh nhân ngay tại đúng thời điểm. - Được bệnh nhân sử dụng đúng chỉ định. - Được chỉ định phù hợp với tác dụng trị liệu của thuốc [45]. Bên cạnh đó, việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn vẫn còn nhiều bất cập.
Các giải pháp để đẩy mạnh sử dụng thuốc hợp lý, an toàn vẫn chưa được thực hiện một cách hệ thống nên những kết quả đạt được vẫn còn rất khiêm tốn. Bán thuốc không cần đơn vẫn còn phổ biến, tỷ lệ tiêu thụ kháng sinh là rất cao, phần nhiều trong số 30 loại thuốc thường được sử dụng có ít hoặc không có hiệu quả lâm sàng [36]. Để cải thiện việc sử dụng thuốc một cách tổng thể, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, các tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Mạng lưới quốc tế về việc sử dụng thuốc hợp lý (INRUD) đã nghiên cứu để xây dựng tiêu chuẩn cho các chỉ số sử dụng thuốc. Những chỉ số này giúp cho chúng ta cải thiện được hiệu quả trong việc sử dụng thuốc [26].
Các chỉ số về chăm sóc bệnh nhân Nghiên cứu sử dụng thuốc với các chỉ số là một trong những công cụ thăm dò hữu hiệu để xác định vai trò của thuốc trong xã hội. Chúng còn là một cơ sở kinh tế y tế cho việc ra quyết định trong chăm sóc sức khỏe bệnh nhân [49]. Người bệnh đến cơ sở y tế với các triệu chứng và những lời than phiền về sức khỏe với hy vọng họ nhận được các chăm sóc về y tế, họ thường ra về với 6 một gói thuốc hoặc đơn thuốc để mua ở thị trường tư nhân. Các chỉ số chăm sóc bệnh nhân đề cập đến các khía cạnh mà người bệnh đã trãi qua tại các cơ sở y tế và họ được chuẩn bị như thế nào để sử dụng các thuốc đã được kê trong đơn và được phát.