ĐẶT VẤN ĐỀ Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng. Chính vì vậy mà đất đai có tầm quan trọng rất lớn, là vấn đề sống còn của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Để khẳng định tầm quan trọng của đất đai, Các Mác nói: “Đất là mẹ, sức lao động là cha, sản sinh ra của cải vật chất”. Hơn nữa đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn về số lượng cố định về vị trí do vậy việc sử dụng đất phải tuân theo quy hoạch cụ thể và có sự quản lý hợp lý.
Theo Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật đất đai 2003. Theo bộ luật này thì công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính là một trong 13 nội dung quan trọng của việc quản lý nhà nước về đất đai. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ giữa nhà nước với người sử dụng đất.
Điều này giúp cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư khai thác tiềm năng của đất và chấp hành đầy đủ những quy định về đất đai. Việc đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính là cơ sở nhà nước nắm chắc, theo dõi toàn bộ quỹ đất dựa trên nền tảng của pháp luật. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, xác nhận, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sử dụng đất. n 2 Xuất phát từ thực tế nhu cầu về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được sự nhất trí của khoa Quản lí Tài Nguyên Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.s Trần Thị Mai Anh, tôi được giới thiệu về thực tập tại Phòng tài nguyên và môi trường huyện Tủa Chùa – tỉnh Điện Biên với mong muốn áp dụng lý thuyết vào thực tiễn đã học vào công tác quản lý đất đai mà trực tiếp là công tác kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và học hỏi kinh nghiệm tại Phòng tài nguyên và môi trường huyện Tủa Chùa.
Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2011 - 2013”. Mục đích của đề tài - Tìm hiểu tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Tủa Chùa – tỉnh Điện Biên. - Xác định những thuận lợi, khó khăn trong công tác cấp GCNQSD đất trên địa bàn huyện Tủa Chùa – tỉnh Điện Biên. - Đề xuất những giải pháp để khắc phục những tồn tại và nâng cao hiệu quả công tác cấp GCNQSD đất tại địa phương.
Yêu cầu của đề tài - Nắm vững và thực hiện những quy định trong Luật đất đai 2003, các văn bản dưới luật về công tác cấp GCNQSD đất, các văn bản của ngành và của tỉnh Điện Biên về công tác cấp GCNQSD đất. - Số liệu thu thập phân tích chính xác, phản ánh trung thực khách quan công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. - Tiếp cận thực tế công việc để nắm được quy trình, trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. n 3 - Những giải pháp đưa ra phải rõ ràng, phù hợp với thực trạng của địa phương đáp ứng được yêu cầu trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai trong luật hiện hành 1.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập: Giúp sinh viên củng cố những kiến thức đã học trong Nhà trường và bước đầu áp dụng vào thực tiễn phục vụ yêu cầu công việc sau khi ra trường. - Ý nghĩa thực tiến: Đáp ứng được vấn đề cấp bách trên địa bàn huyện Tủa Chùa – tỉnh Điện Biên trong công tác cấp GCNQSD đất, giúp UBND huyện Tủa Chùa tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và pháp lý của công tác đăng ký đất đai cấp GCNQSD đất 2.
Cơ sở khoa học của công tác đăng ký đất đai cấp GCNQSD đất 2. Công tác cấp GCNQSD đất đối với quản lý Nhà nước về đất đai. Từ thập niên 80 trở lại đây, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến đáng kể. Nền kinh tế tự cung, tự cấp đã dần chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế ngày càng phát triển dẫn đến sự đa dạng hàng hóa các thành phần kinh tế và các hình thức sản xuất. Từ chỗ kinh tế quốc doanh chiếm đa số thì đến nay kinh tế tư nhân, liên doanh, liên kết phát triển đóng vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân. Nhờ có chính sách đổi mới đó mà đời sống người dân ngày càng cải thiện. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó thì vấn đề đặt ra đối với cơ quan quản lý đất đai là làm sao đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của ngành sản xuất và của đời sống người dân; Đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm giải quyết.
Theo khoản 20 Điều 4 Luật đất đai 2003 quy định: “GCNQSD đất là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”. Như vậy, GCNQSD đất đai hợp pháp của người sử dụng đất là một trong những quyền quan trọng được người sử dụng đất đặc biệt quan tâm. Thông qua công tác cấp GCNQSD đất, Nhà nước xác lập mối quan hệ pháp lý của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đất đai đối với các tổ chức, hộ gia đình và cá n 5 nhân được Nhà nước giao đất sử dụng. Công tác cấp GCNQSD đất giúp Nhà nước nắm chắc được tình hình đất đai biết chính xác về số lượng, chất lượng, đặc điểm về tình hình hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất.
Vì vậy, cấp GCNQSD đất là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Công tác cấp GCNQSD đất đối với người sử dụng. - GCNQSD đất là chứng thư quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và người sử dụng đất. - GCNQSD đất là điều kiện để người sử dụng đất được bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình sử dụng đất.
- GCNQSD đất là điều kiện để đất đai được tham gia vào thị trường bất động sản. Căn cứ pháp lý của đề tài. Các văn bản pháp lý của nhà nước liên quan đến công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Nhận thức được tầm quan trọng của đất đai đối với xã hội và phát triển kinh tế, nên ngay từ khi giành được độc lập Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến vấn đề quản lý đất đai. Tháng 11 năm 1953 Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ IV quyết định triệt tiêu chế độ sở hữu ruộng đất của đế quốc xâm lược, xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của giai cấp phong kiến Việt Nam và thực hiện chia lại ruộng đất cho nhân dân.
Qua các giai đoạn phát triển của đất nước, công tác quản lý đất đai cũng dần được hoàn thiện. Nội dung cơ bản của công tác quản lý đất đai được thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Khởi đầu là ngày 19/12/1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 179/SL ban hành Luật cải cách ruộng đất cho nhân dân. n 6 Đến Hiến pháp năm 1959 ra đời quy định 3 hình thức sở hữu ruộng đất đó là: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân.Với sự ra đời của 3 hình thức sở hữu này đã giúp cho nhân dân Miền Bắc yên tâm tập trung sản xuất, nâng cao năng suất nông nghiệp đảm bảo nhu cầu lương thực cho cả nước.
Sau khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng và giành được độc lập Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách đất đai cho phù hợp với điều kiện mới của đất nước. Ngày 20/6/1977 Chính phủ ban hành quyết định 169/CP với nội dung thống kê đất đai trong cả nước. Theo qui định tại hiến pháp năm 1959 ở nước ta có 3 hình thức sở hữu về đất đai thì sau khi hiến pháp năm 1980 ra đời đã quy định hình thức sở hữu đối với đất đai ở nước ta chỉ còn một hình thức duy nhất là hình thức sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất và quản lý. Điều này được thể hiện tại điều 19 hiến pháp 1980 “Đất đai, núi rừng, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất ở vùng biển và thềm lục địa cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân”.
Điều 20 Hiến pháp 1980 cũng quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy định chung”. Để thực hiện tốt Hiến pháp năm 1980 và công tác quản lý đất đai, Chính phủ đã ban hành các văn bản liên quan đến hiến pháp này như: Ngày 01/7/1980 Chính phủ ra Quyết định số 201/CP về việc thống nhất tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước.Trong đó quy định vấn đề cấp GCNQSD đất là một nôi dung quản lý nhà nước về đất đai. Quyết định này được coi là văn bản pháp quy đầu tiên quy định khá chi tiết, toàn diện về công tác quản lý ruộng đất trong toàn Quốc. Tiếp theo Quyết định 201/CP là Chỉ thị số 299/TTg Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước với mục đích nắm chắc toàn bộ quỹ đất đáp ứng yêu cấu quản lý và sử dụng đất trong giai đoạn mới.
n 7 Ngày 05/11/1981 Quyết định 56/ĐK-TK ra đời nhằm tăng cường công tác chức năng nhiệm vụ quản lý, quy định thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất và lập biểu mẫu hồ sơ địa chính. Sau khi ra đời nó đã được áp dụng và triển khai nhanh chóng trong cả nước.