MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Đất đai là nguồn tài nguyên, thiên nhiên vô cùng quý giá, là nguồn nội lực để phát triển đất nước. Trong quá trình đổi mới đất nước ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề quản lý đất đai, ban hành nhiều thông tư, nghị định, các hiến pháp mới để sửa đổi, bổ sung cho luật đất đai để đáp ứng nhu cầu của con người.
Đất đai cũng tham gia vào hoạt động đời sống kinh tế xã hội, nó là nguồn vốn quan trọng của đất nước. Luật Đất đai 1993 đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Là địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”.[4] Các Mác cũng đã viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể”. Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện quản lý.
Một trong những công cụ quản lý hết sức quan trọng của nhà nước về đất đai là công tác đăng ký và cấp giấy cứng nhận quyền sử dụng đất. Trong giai đoạn hiện nay, tình hình sử dụng đất đai rất phức tạp, nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng tăng, đất đai trở nên khan hiếm và có giá trị hơn. Bên cạnh đó hàng loạt các vụ tranh chấp về đất đai diễn ra ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Do đó, việc nâng cao công tác quản lý đất đai là hết sức cần thiết, đặc biệt là công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vị trí đặc biệt trong quá trình quản lý đất đai của nhà nước,nó xác lập mối quan hệ pháp lý n 2 về quyền sử dụng đất đai giữa nhà nước và người sử dụng đất, nó không những đảm bảo sự thống nhất về quản lý mà còn đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng, giúp người sử dụng đất yên tâm đầu tư, sản xuất, kinh doanh và cũng là cơ sở pháp lý trong việc thu tiền sử dụng đất, tăng nguồn ngân sách cho nhà nước. Hoạt động của thị trường Bất động sản đang diễn ra với tốc độ nhanh, góp phần tăng trưởng kinh tế, để thị trường này hoạt động công khai, minh bạch thì công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần phải tiến hành nghiêm túc. Huyện Bình Gia là một huyện thuộc phía Bắc của Tỉnh Lạng Sơn. Huyện đã gặt hái được nhiều thành công trong công tác đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bên cạnh đó huyện cũng gặp không ít khó khăn do nhiều nguyên nhân tác động.
Vì vậy, việc tìm hiểu những khó khăn, giải quyết những vướng mắc, đề ra phương hướng để đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận trên địa bàn Huyện Bình Gia là hết sức cần thiết. Nhận thức được tầm quan trọng của đề tài trên, với kiến thức đã học. Được sự đồng ý của nhà trường và khoa Quản Lý Tài Nguyên trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2013”. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
- Đánh giá kết quả công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2013 tại huyện Bình Gia – Lạng Sơn. - Tìm hiểu những quy định của pháp luật đất đai về công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại huyện Bình Gia – Tỉnh Lạng Sơn. n 3 - Đánh giá thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại huyện Bình Gia - tỉnh Lạng Sơn. - Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện.
- Đề xuất giải pháp thích hợp góp phần đẩy nhanh tiến độ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng như hỗ trợ việc quản lý đất đai trên địa bàn huyện. Yêu cầu của đề tài. - Thu thập đầy đủ tài liệu về công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện. - Bám sát luật đất đai và các văn bản thông tư kèm theo.
- Đảm bảo độ chính xác, khách quan, trung thực. Chấp hành đúng với quy định của Bộ Tài Nguyên – Môi Trường đã đề ra. - Đánh giá được những hạn chế, tồn tại và đề ra những giải pháp khắc phục trong việc đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận trên địa bàn huyện. Ý nghĩa của đề tài.
- Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Hoàn thiện hơn các kiến thức đã học trong nhà trường cho bản thân, đồng thời học hỏi các kiến thức thực tế và tiếp xúc trực tiếp với công tác cấp giấy trong thực tế. - Trong thực tiễn công việc: học hỏi các kiến thức thực tế đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp cho công tác cấp GCNQSD đất nói riêng và công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung được tốt hơn. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2.
Khái niệm về đất đai, vai trò của đất đai đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Khái niệm về đất đai: Theo Đôcutraiep ngƣời Nga thì: “Đất là vật thể tự nhiên được hình thành do tác động tổng hợp của 5 yếu tố: sinh vật, đá mẹ, địa hình và thời gian, đối với trồng trọt thì có thêm yếu tố con người”. Vai trò của đất đai: Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành nông – lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của của môi trường sống và là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Đất đai tham gia vào tất cả các ngành, các lĩnh vực của xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa và mở cửa hội nhập thì đất đai vẫn giữ một vị trí then chốt trong các ngành. Đồng thời đất đai là nguồn lực cơ bản quan trọng nhất góp phần cho sự phát triển đất nước.3 Phân loại đất đai: Theo sự thông nhất về quản lý và sử dụng đất của Luật đất đai 2003, Điều 13, đất đai được phân loại như sau: n 5 -Nhóm đất nông nghiệp: đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác), đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác theo quy định của chính phủ. + Nhóm đất phi nông nghiệp: đất ở (gồm đất nông thôn, đất đô thị), đất xây dựng, trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (đất xây dựng khu công nghiệp, đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh, đất sử dụng cho hoạt đông khoáng sản, đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm), đất sử dụng vào mục đích cộng đồng (đất giao thông, thủy lợi, đất xây dựng các công trình văn hóa, y tế, giáo dục – đào tạo, thể dục – thể thao, đất có di tích lịch sử – văn hóa, danh lam – thắng cảnh, đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của chính phủ), đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng, đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ, đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, đất sông ngòi, kênh rạch, suối và mặt nước chuyên dùng, đất phi nông nghiệp khác theo quy định của chính phủ. +Nhóm đất chưa sử dụng: các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng.2 Khái niệm về công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất là: “Quyền của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, được nhà nước giao đất, cho thuê đất, đấu giá quyền sử dụng đất để sử dụng vào các mục đích theo quy định của pháp luật”.[7] Theo khoản 19 điều 4 Luật Đất đai 2003 quy định về khái niệm đăng ký đất đai hay đăng ký quyền sử dụng đất như sau: “Đăng ký quyền sử dụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác nhận vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và lợi ích của người sử dụng”.[7] Theo khoản 20, điều 4 Luật đất đai 2003 thì: “GCN QSDĐ là GCN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”.
Vai trò của công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ. * Đối với người sử dụng đất. - GCNQSD đất là giấy tờ thể hiện mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất. - GCNQSD đất là điều kiện để đất đai được tham gia vào thị trường bất động sản.
- GCNQSD đất là điều kiện để người sử dụng đất được bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình sử dụng đất. * Đối với Nhà nước Khoản 20 điều 4 Luật Đất đai 2003 quy định: “GCNQSD đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”. Như vậy GCNQSD đất là chứng thư pháp lý xác định quyền sử dụng đất đai hợp pháp của người sử dụng đất. Đây là một trong những quyền quan trọng được người sử dụng đất đặc biệt quan tâm.
Thông qua công tác cấp GCNQSD đất, Nhà nước xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đất đai với các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng. Công tác cấp GCNQSD đất giúp Nhà nước nắm chắc được tình hình đất đai tức là biết rõ các thông tin chính xác về số lượng và chất lượng, đặc điểm về tình hình hiện trạng của việc quản lý sử dụng đất. Từ việc nắm chắc tình hình đất đai, Nhà nước sẽ thực hiện phân phối, phân phối lại đất theo quy hoạch, kế hoạch chung thống nhất. Nhà nước thực hiện quyền chuyển giao, quyền sử dụng từ các chủ thể khác nhau.