Chương 1: GIỚI THIỆU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành công nghiệp chế biến gỗ đã trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực đứng thứ 5 của Việt Nam sau dầu thô, dệt may, giày dép và thủy sản. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam Á. Chất lượng sản phẩm đồ gỗ Việt Nam luôn được nâng cao, có khả năng cạnh tranh được với các nước trong khu vực.
Nước ta dự tính có khoảng 3.500 doanh nghiệp chế biến gỗ, 340 làng nghề gỗ và số lượng lớn các hộ sản xuất kinh doanh đồ gỗ chưa được thống kê. Ngành gỗ là một trong những ngành sử dụng một lượng lớn dung môi, hóa chất phục vụ cho mục đích xử lý gỗ chống mối mọt, phun sơn, ghép gỗ,… các hóa chất này là mối nguy hại tiềm tang đối với sức khỏe công nhân ngành gỗ. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ, trong những năm vừa qua, các vụ tai nạn lao động trong ngành gỗ ngày càng phổ biển. Đặc thù của loại hình lao động này là làm việc trong môi trường không thuận lợi, thường xuyên phải tiếp xúc với tiếng ồn, bụi; thường xuyên phải đứng trong một thời gian dài liên tục làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, gây ra các bệnh nghề nghiệp.
Sử dụng trực tiếp các máy móc có nguy cơ gây tai nạn lao động cao. Đặc biệt, ở Việt Nam hiện nay, nhiều cơ sở chế biến gỗ làm việc theo xưởng gia đình nên không trang bị các các hệ thống xử lý môi trường, công tác an toàn lao động không đảm bảo, làm tăng nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến người lao động. Trước tình hình trên, việc đưa ra những giải pháp để cải thiện điều kiện làm việc và đảm bảo an toàn lao động trong ngành gỗ là thực sự cần thiết. Trước tình hình trên, công ty chưa có đề xuất quản lý an toàn sức khỏe,hiểu rõ xu hướng phát triễn xã hội và tầm quan trọng cần phải thiết lập hệ thống quản lý “Đánh giá hiện trạng an toàn và tác động đến sức khỏe người lao động ở Công ty TNHH Ngọc Diệp” nhằm nâng cao chất lượng MTLĐ của NLĐ tại công ty Ngọc Diệp, và giảm thấp nhất về mối nguy TNLĐ và BNN, đồng thời hạn chế tối thiểu sự cố và rủi ro không mong muốn, khắc phục TNLĐ ở công ty TNHH Ngọc Diệp.
[1] SVTH: Nguyễn Thị Thanh Mai MSSV:1724403010023 Báo cáo tốt nghiệp GVHD: PGS. Mục tiêu nghiên cứu: 2.1 Mục tiêu tổng quát – Tìm hiểu và nhìn nhận các vấn đề ATLĐ tại Công ty Ngọc Diệp để có được những kết quả xác thực nhất. – Đánh giá hiện trạng môi trường và an toàn vệ sinh lao động. – Nhận diện và xác định các mối nguy của công ty, đồng thời đưa ra các biện pháp khắc phục giảm các TNLĐ và BNN.2 Mục tiêu cụ thể − Tìm hiểu nhà máy Ngọc Diệp − Xác định các mối nguy hại và nguyên nhân, tác động đến sức khỏe người lao động − Xác định các yếu tố phơi nhiễm hóa chất − Đánh giá rủi ro cho sức khỏe công nhân − Đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro.
Nội dung nghiên cứu: − Khảo sát điều kiện lao động công nhân và đo môi trường tại công ty Ngọc Diệp tỉnh Bến Cát. − Xác định những mối nguy hại ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động ngành gỗ − Phân tích con đường phơi nhiễm và mức độ phơi nhiễm hóa chất, bụi đối với người lao động. − Đề xuất giải pháp quản lý rủi ro. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: − Đối tượng nghiên cứu: Công nhân viên và quá trình lao động tại Công ty TNHH MVT Ngọc Diệp.
– Phạm vi nghiên cứu: Các khu vực sản xuất, khu lưu trữ chất thải, nhà kho chứa hóa chất, kho nguyên liệu và kho thành phẩm, và môi trường xung quanh khu vực sản xuất trong lĩnh vực an toàn chế biến đồ gỗ trong Công ty TNHH Ngọc Diệp. [2] SVTH: Nguyễn Thị Thanh Mai MSSV:1724403010023 Báo cáo tốt nghiệp GVHD: PGS. Ý nghĩa khoa học_kinh tế_xã hội của luận văn 5.1Ý nghĩa khoa học: – Do sự hạn chế về mặt thời gian và phạm vi thực hiện, đề tài chưa có đóng góp về mặt khoa học.2 Ý nghĩa kinh tế : – Tạo ra điều kiện lao động tốt, đảm bảo sức khỏe cho người lao động, dẫn đến năng suất lao động tăng. – Việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật đúng quy trình sẽ đảm bảo cho máy móc hoạt động lâu dài, tiết kiệm được chi phí và tránh được tai nạn lao động.3 Ý nghĩa xã hội: – Đưa ra biện pháp giảm thiểu rủi ro sức khỏe giúp tiết kiệm chi phí y tế trong việc chữa bệnh tại Bình Dương – Giảm nguy cơ bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, tăng hiệu quả sản xuất và BVMT.
[3] SVTH: Nguyễn Thị Thanh Mai MSSV:1724403010023 Báo cáo tốt nghiệp GVHD: PGS. Chế Đình Lý Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về ngành công nghiệp chế biến gỗ tại Việt Nam 2. Quy mô và năng lực sản xuất Ngành chế biến gỗ của Việt Nam trong thập kỷ qua đã phát triển mạnh mẽ tạo ra nhiều việc làm , cải thiện thu nhập , nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân , góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói , giảm nghèo.
Sự phát triển của công nghiệp chế biến sản phẩm gỗ Việt Nam được thể hiện rõ rệt qua sự gia tăng nhanh chóng về số lượng cơ sở chế biến , quy mô chế biến , khối lượng sản phẩm , chất lượng sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Ngoài việc cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước , sản phẩm gỗ của Việt Nam hiện có mặt ở thị trường của trên 120 quốc gia Đặc biệt tại một số thị trường lớn như Nhật Bản , Hoa Kỳ , EU. sản phẩm đồ gỗ Việt Nam đã có được một chỗ đứng , vị thế quan trọng trên thị trường , chiếm một tỷ lệ thị phần đáng kể đặc biệt là thị trường Nhật Bản với tốc độ tăng thị phần khá nhanh , với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng qua các năm , sản phẩm chủng loại khá đa dạng. Số lượng lao động lớn sử dụng trong các cơ sở chế biến hiện nay được đánh giá là đã góp phần quan trọng vào giải quyết việc làm cho người lao động ở nước ta.
So với nhiều ngành kinh doanh khác, có thể thấy sự hấp dẫn của ngành gỗ từ tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, độ an toàn và ổn định của hoạt động sản xuất kinh doanh và hơn thế nữa là lợi thế cạnh tranh của một quốc gia có nguồn nguyên liệu dồi dào. Năm 2016, sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapor… Trong 5 năm qua, từ 2017 đến nay, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đều tăng hơn so với năm trước, trung bình khoảng 20%, trừ năm 2018 do ảnh hưởng của kinh tế thế giới nên bị sụt giảm 8,16% so với năm 2017. Năm 2018, Việt Nam đã đạt 4,67 tỷ USD, tăng 15,3% so với năm 2017. [4] SVTH: Nguyễn Thị Thanh Mai MSSV:1724403010023 Báo cáo tốt nghiệp GVHD: PGS.
Chế Đình Lý Hình 2. Biểu đồ thể hiện thị phần xuất khẩu gỗ năm 2017 (Nguồn: CSIL Word Furniture Outlook 2017) Sản xuất đồ nội thất toàn cầu đạt 406 tỷ USD trong năm 2015. Các nhà sản xuất đồ nội thất quan trọng nhất thế giới là: Trung Quốc chiếm 41%, tiếp theo là Mỹ, Đức, Italia, Ấn Độ, Ba Lan, Anh, Nhật Bản, Canada, Hàn Quốc. Ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đã trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực, đứng thứ 4 chỉ sau cà phê, thủy sản và máy móc, phụ tùng.
Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gỗ đứng đầu Đông Nam Á và đứng thứ 7 trên thế giới về xuất khẩu đồ gỗ. Chất lượng sản phẩm đồ gỗ Việt Nam luôn được nâng cao, có khả năng cạnh tranh được với các nước trong khu vực.1: Số lượng doanh nghiệp và quy mô sản xuất Doanh nghiệp tư Doanh nghiệp nhà nước nhân Tổng doanh nghiệp 3900 95% 5% Phân theo vốn đầu tư (NĐ956/2009/NĐ-CP) Nhỏ &siêu nhỏ Vừa Lớn 93% 5,5% 1,2% Phân theo lao động Siêu nhỏ Nhỏ Vừa Lớn 46% 49% 1,7% 2,5% [5] SVTH: Nguyễn Thị Thanh Mai MSSV:1724403010023 Báo cáo tốt nghiệp GVHD: PGS. Chế Đình Lý Từ bảng 2.1 cho thấy tổng doanh nghiệp ngành gỗ là 3900 trong đó có đến 95% là doanh nghiệp tư nhân và 5% là doanh nghiệp nhà nước, quy mô sản xuất ngành gỗ chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ chiếm 93%, vừa chiếm 5,5% và quy mô lớn không đáng kể.2 Đặc điểm nguyên liệu, và máy móc thiết bị Nguyên vật liệu chính là gỗ các loại gồm 80% là gỗ nhập khẩu từ nước ngoài (Trung Quốc, Canada, Lào, Campuchia…) và 20% là gỗ nội địa. Bên cạnh đó, vật liệu không thể thiếu là các loại sơn, dầu bóng và các chất bào quản gỗ.
Máy móc thiết bị bao gồm nhiều loại được nhập khẩu từ Đài Loan, Nhật, Đức và một số máy được sản xuất trong nước.3 Thị trường Thị trường xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đã có nhiều biến chuyển mạnh mẽ trong những năm gần đây, từ chỗ tập trung vào các thị trường như Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc… để tái xuất khẩu sang một nước thứ ba, đến nay đã xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường của người tiêu dùng như Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Canada…. Với thị trường Mỹ, Việt Nam là nước cung cấp đồ gỗ nội thất thứ 3 thế giới. Đến nay, ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đã vượt qua Thái Lan, Indonesia, Malaysia trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất khu vực. Qua tổng quan về ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam cho thấy ngành gỗ đã mang lại một lợi ích lớn về kinh tế cho quốc gia mỗi năm đều tăng.
Tuy nhiên quy mô sản xuất nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỉ lệ rất lớn trong tổng số doanh nghiệp cả nước và theo báo cáo của hiệp hội chế biến gỗ thì các công ty nhỏ và siêu nhỏ phần lớn có công nghệ lạc hậu vì vậy trong quá trình hoạt động sản xuất ngành gỗ sẽ thải ra môi trường nhiều chất thải nguy hại như hóa chất xử lý gỗ, dung môi, tiếng ồn, bụi…và người bị tiếp nhận trực tiếp, gián tiếp những chất ô nhiễm phát sinh trong sản xuất chính là người lao động và người dân. [6] SVTH: Nguyễn Thị Thanh Mai MSSV:1724403010023 Báo cáo tốt nghiệp GVHD: PGS.2 Tổng quan về ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Bình Dương 2.